- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng góp hụi giữa Nguyễn Thị Kim H với Từ Thị H1, Nguyễn Hùng D."
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Hùng D.
- Căn cứ chính? Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 113/2023/DS-PT Ngày: 28-02-2023 V/v tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong.
Các Thẩm phán:
Bà Đỗ Thị Minh Nguyệt;
Bà Nguyễn Thị Ánh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 415/2022/TLPT-DS ngày 30 tháng 11 năm 2022 về việc tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 163/2022/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 16/2023/QĐ-PT ngày 13 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1983 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn:
1. Bà Từ Thị H1, sinh năm 1958;
2. Ông Nguyễn Hùng D, sinh năm 1958;
Cùng địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H1: Bà Võ Thị Minh Th, sinh năm 1964 (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 21/02/2023) (có mặt);
Địa chỉ: Ấp H, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Từ Thị H1 và ông Nguyễn Hùng D.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo án sơ thẩm;
* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ghi ngày 25/7/2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H trình bày:
Bà có tham gia chơi hụi do bà H1, ông D làm chủ thảo như sau:
- Dây hụi thứ 01 (ký hiệu trong danh sách chơi hụi của bà H1 là 5D): Hụi có lãi giá 2.000.000đồng, khui ngày 15/8/2016 (âm lịch), 03 tháng khui 01 lần, có 24 phần, bà tham gia 01 phần, tiền hoa hồng cho chủ thảo mỗi lần hụi viên hốt hụi là 1.000.000 đồng. Dây hụi này bà góp được 21 lần hụi sống, thì bà H1, ông D tuyên bố ngưng hụi với lý do ảnh hưởng dịch bệnh Covid 19, các hụi viên hốt hụi không đóng tiền hụi, bà không có tiền choàng hụi cho các hụi viên không đóng hụi. Theo thỏa thuận, sau khi trừ tiền hoa hồng cho chủ thảo dây hụi này bà H1, ông D còn nợ lại số tiền góp hụi và tiền lãi là 41.000.000 đồng.
- Dây hụi thứ 02 (ký hiệu trong danh sách chơi hụi của bà H1 là 10D): Hụi có lãi giá 1.000.000 đồng, khui ngày 10/5/2017 (âm lịch), 03 tháng khui 01 lần, có 21 phần, bà tham gia 01 phần, tiền hoa hồng cho chủ thảo mỗi lần hụi viên hốt hụi là 500.000 đồng, dây hụi này bà góp được 18 lần hụi sống, thì bà H1, ông D tuyên bố ngưng hụi với lý do ảnh hưởng dịch bệnh Covid 19, các hụi viên hốt hụi không đóng tiền hụi, bà không có tiền choàng hụi cho các hụi viên không đóng hụi. Theo thỏa thuận, sau khi trừ tiền hoa hồng cho chủ thảo dây hụi này bà H1, ông D còn nợ lại số tiền góp hụi và tiền lãi là 17.500.000 đồng.
- Dây hụi thứ 03 (ký hiệu trong danh sách chơi hụi của bà H1 là 2A): Hụi có lãi giá 1.000.000 đồng, khui ngày 15/12/2020, một tháng khui 01 lần, có 27 phần, bà tham gia 01 phần, tiền hoa hồng cho chủ thảo mỗi lần hụi viên hốt hụi là 500.000 đồng, dây hụi này bà góp được 11 lần hụi sống, thì bà H1, ông D tuyên bố ngưng hụi với lý do, ảnh hưởng dịch bệnh Covid 19, các hụi viên hốt hụi không đóng tiền hụi, bà không có tiền choàng hụi cho các hụi viên không đóng hụi. Theo thỏa thuận, sau khi trừ tiền hoa hồng cho chủ thảo dây hụi này bà H1, ông D còn nợ lại số tiền góp hụi và tiền lãi là 10.500.000 đồng.
Tổng cộng 03 dây hụi bà H1, ông D còn nợ bà số tiền 69.000.000 đồng. Nay bà yêu cầu bà H1, ông D phải có nghĩa vụ liên đới trả tiền 01 lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
* Theo biên bản hòa giải ngày 12/8/2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Từ Thị H1 trình bày:
Thừa nhận lời trình bày của bà H là đúng sự thật. Bà H có tham gia góp hụi do bà và chồng là ông D làm chủ thảo.
Đến nay bà H đã góp tiền của dây hụi ký hiệu 5D là 26.590.000 đồng, của dây hụi ký hiệu 10D là 9.460.000 đồng và của dây hụi ký hiệu 2A là 6.710.000 đồng. Tổng cộng là 42.760.000 đồng.
Bà thừa nhận để tạo lòng tin cho các hụi viên khi rủ họ tham gia chơi các dây hụi do bà làm chủ thảo, bà có thỏa thuận: “hụi có lãi (góp hụi sống được tiền hụi chết), bà cam kết chịu trách nhiệm đi gom tiền của các hụi viên chưa hốt hụi (hụi sống) và choàng tiền hụi cho các hụi viên chậm góp hụi (hụi chết) nếu những người này chậm thực hiện nghĩa vụ đóng hụi để giao tiền cho hụi viên hốt hụi và nhận tiền hoa hồng của dây hụi theo thỏa thuận” nhưng đến nay không thực hiện được cam kết này là do một phần ảnh hưởng do dịch bệnh Covid 19, quá nhiều các hụi viên đã hốt hụi không góp lại tiền hụi chết theo thỏa thuận nên bà không còn khả năng choàng hụi, dẫn đến phải ngưng hụi nên vợ chồng bà xin trả lại số tiền bà H đã góp hụi là 42.760.000 đồng, xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.
* Theo biên bản hòa giải ngày 12/8/2022, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Hùng D trình bày:
Thừa nhận vợ chồng ông, bà còn nợ bà H số tiền góp hụi là 42.760.000 đồng, xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.
* Bản án dân sự sơ thẩm số 163/2022/DS-ST ngày 30/8/2022 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang đã áp dụng khoản 3 Điều 26, Điều 226, 227, 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 280, 288, 471 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 23 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim H.
Buộc bà Từ Thị H1 và ông Nguyễn Hùng D phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà H số tiền 69.000.000 đồng, ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
* Ngày 13/9/2022, bị đơn bà Từ Thị H1 và ông Nguyễn Hùng D có đơn kháng cáo đối với toàn bộ Bản án sơ thẩm số 163/2022/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang; bà H1 và ông D chỉ đồng ý trả 42.760.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
* Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà H1 và ông D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.
[1] Về tố tụng: Bà Từ Thị H1 và ông Nguyễn Hùng D nộp đơn kháng cáo và thực hiện thủ tục kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo: Bị đơn bà Từ Thị H1 và ông Nguyễn Hùng D có đơn kháng cáo đối với toàn bộ Bản án sơ thẩm số 163/2022/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang; bà H1 và ông D chỉ đồng ý trả 42.760.000 đồng.
Xét yêu cầu kháng cáo của bà H1 và ông D, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Ông Nguyễn Hùng D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do, cũng không có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông D.
[2.2] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H và các bị đơn bà Từ Thị H1, ông Nguyễn Hùng D thống nhất: Bà H tham gia 03 dây hụi ký hiệu số 5D, 10D và 2A do bà H1, ông D làm chủ thảo, đồng thời thống nhất số lần góp hụi của bà H đối với 03 dây hụi này; các dây hụi đều là hụi có lãi (góp hụi sống được hưởng tiền hụi chết); bà Từ Thị H1 cam kết chịu trách nhiệm đi gom tiền của các hụi viên chưa hốt hụi (hụi sống) và choàng tiền hụi cho các hụi viên chậm góp hụi (hụi chết) nếu những người này chậm thực hiện nghĩa vụ đóng hụi để giao tiền cho hụi viên hốt hụi và nhận tiền hoa hồng của dây hụi theo thỏa thuận. Đây là các tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.3] Theo điểm b khoản 2 Điều 16 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường thì các thành viên trong dây hụi có nghĩa vụ trả lãi cho các thành viên chưa lĩnh hụi khi được lĩnh hụi. Như vậy, thực tế, tiền lãi mà các thành viên trong dây hụi được nhận là do thành viên lĩnh hụi trả, không phải do chủ thảo chi trả. Tuy nhiên, khi có thành viên không góp phần hụi của họ khi đến kỳ mở hụi thì trách nhiệm của chủ thảo là nộp thay phần hụi của thành viên này theo quy định tại khoản 4 Điều 18 và Điều 23 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.
Mặt khác, bà H1 và ông D thừa nhận các dây hụi là hụi có lãi, giữa ông bà và các hụi viên có thỏa thuận “góp hụi sống được hưởng tiền hụi chết”. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 23/8/2022, bà H1 cũng thừa nhận bà sẽ chịu trách nhiệm đi gom tiền của các hụi viên chưa hốt hụi và choàng tiền hụi chết nếu những người này chậm đóng hụi để giao tiền cho hụi viên hốt hụi; đồng thời thừa nhận nếu tính hụi có lãi thì bà H đã góp được 03 dây tổng cộng là 69.000.000 đồng (bút lục 29).
Bà H1 cho rằng giữa bà và các các hụi viên có thỏa thuận chỉ trả vốn nhưng không được phía bà H xác nhận, bà H1 cũng không có chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở xem xét đề nghị trả vốn của bà H1.
Bà H1 và ông D tổ chức các dây hụi nhưng không thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú theo quy định tại Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông bà trả lãi theo thỏa thuận giữa các bên là phù hợp. Thực tế, việc tính lại lãi suất chênh lệch không nhiều so với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bởi lẽ các dây hụi đã bắt đầu khui từ năm 2016, 2017 và 2020.
Từ những phân tích trên, xét thấy bà Từ Thị H1 và ông Nguyễn Hùng D là chủ thảo các dây hụi, việc ngưng hụi hoàn toàn là lỗi của bà H1 và ông D, hơn nữa dù ngưng hụi nhưng bà H1 và ông D vẫn được trả hoa hồng, do đó bà H1 và ông D có trách nhiệm hoàn trả số tiền hụi (có lãi) mà bà H được hưởng trong các dây hụi mà bà H đã tham gia, tương ứng với số phần hụi mà bà H đã góp.
[2.4] Bà H1 kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ án nên yêu cầu kháng cáo của bà không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các nội dung, quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3] Ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Bà H1 và ông D là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên căn cứ Điều 12 và Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí phúc thẩm cho bà H1 và ông D.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 289, Điều 295, khoản 3 Điều 296, khoản 1 và 5 Điều 308, khoản 2 Điều 312 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Hùng D.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Từ Thị H1. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 163/2022/DS-ST ngày 30/8/2022 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Căn cứ khoản 3 các điều 26, 226, 227 và Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 280, 288, 471 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 16, 18 và Điều 23 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim H.
Buộc bà Từ Thị H1 và ông Nguyễn Hùng D phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà H số tiền 69.000.000 đồng, ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà H1, ông D chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và khoảng thời gian chậm thi hành án.
2. Về án phí:
Miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm cho bà H1, ông D.
Hoàn lại cho bà H 1.800.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0016552 ngày 01/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - TAND huyện C; - CCTHADS huyện C; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Phong |