- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Phương Khanh và Trần Thanh Có - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê P K và Trần T C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 113/2022/HSST Ngày: 13-12-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm C:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Ngọc Vân
Ông Lê Thanh Bình
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Minh Cƣờng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Bà Lê Phƣơng Hồng Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2022/HSST ngày 01 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo:
1/ Lê P K, sinh năm 1994 tại tỉnh Tiền Giang; Tên gọi khác: Sang; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: số 74/4 NAN, Phường B, thành phố MTho, tỉnh T; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê H P (1972) và bà Nguyễn Thị X T (1973); Bị cáo chưa C vợ con.
Tiền sự: 02 lần
+Ngày 30/5/2019 tại Quyết định số 42/QĐ-TA bị Tòa án nhân dân thành phố M áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng. Bị cáo đã chấp hành xong ngày 21/8/2020;
+Ngày 07/12/2021 tại Quyết định số 3461/QĐ-XPVPHC bị Công an thành phố M xử phạt 3.500.000 đồng về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác”.
Tiền án: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27/8/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M, tỉnh T . C mặt tại phiên tòa.
2/ Trần T C, sinh năm 1999 tại tỉnh Tiền Giang; Tên gọi khác: Bé; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: số 119 ấp Mn, xã MP, thành phố M, tỉnh TG; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H (1963) và bà Cao Thị H (1966); Bị cáo chưa C vợ con.
Tiền sự: Không
Tiền án: Ngày 14/12/2020 tại bản án số 97/HSST bị Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/8/2021.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27/8/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M, tỉnh Tiền Giang . C mặt tại phiên tòa
*Người bị hại: Võ Thị T P, sinh năm 1979. Vắng mặt
Nơi cư trú: 1/4A HTC, Phường 7, Tp M, Tiền Giang
* Người C quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Nguyễn Thị X T, sinh năm: 1973. C mặt
2/ Lê Phƣơng T, sinh năm: 1996. Vắng mặt
Trú tại: 74/4 NAN, Phường B, thành phố M, Tiền Giang
3/ Võ H Đ, sinh năm: 1973. Vắng mặt
Trú tại: Tổ 11 ấp M1, xã MP, thành phố M, Tiền Giang
4/ Phan Thị K H, sinh năm: 1959. Vắng mặt
Trú tại: số 25/28 đường LVT, Phường E, thành phố M, Tiền Giang
5/ Võ Thị K, sinh năm: 1974. C mặt
Trú tại: ấp M2, xã MP, thành phố M, Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu C trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 01/7/2022 Lê P K điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, màu đỏ-đen biển số 63P1-9172 chạy trên đường Trần Nguyên Hãn, Phường 8, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang thì gặp Trần T C đi bộ trên đường nên K rủ C đi trộm thì C đồng ý. C điều khiển xe trên chở K chạy trên đường Quốc lộ 50 hướng từ Phường 9 đi Quảng trường trung tâm tỉnh Tiền Giang. Khi chạy ngang quán cà phê “Hồng Phượng” tại Tổ 8 ấp Hội Gia, xã MP, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang do chị Võ Thị Tuyết Phượng làm chủ, K quan sát thấy quán đóng cửa, khóa bên ngoài nên kêu C chở về nhà trọ của một người bạn tên Thiện (không rõ họ, ở Phường 9) lấy 01 cây kéo cắt sắt mà K đã để bên hông phòng trọ rồi trở lại quán “Hồng Phượng”. Khoảng 08 giờ cùng ngày, C chở K đến và dừng xe trước cửa quán để giữ xe và cảnh giới, K dùng kéo cắt sắt cắt 02 ổ khóa cửa và đột nhập vào bên trong lấy trộm 01 Tivi hiệu Samsung 43inch màu đen treo trong phòng ngủ đem ra ngoài và leo lên xe cho C chở đi. C chở K đến gần ngã 3 đường Thái Sanh Hạnh +Trần Thị Thơm thuộc Phường 9, thành phố Mỹ Tho thì gặp một người đàn ông đang ngồi uống cà phê (không rõ họ, tên, địa chỉ) hỏi mua nên K bán Tivi cho người này với giá 1.500.000 đồng. Sau đó K đem cây kéo cất ở chổ cũ, đưa C về nhà ở xã MP, thành phố Mỹ Tho. Đến khoảng 08 giờ 50 phút cùng ngày chị Phượng phát hiện mất tài sản và trình báo Công an xã. Số tiền bán Tivi thì K trả tiền thuê phòng khách sạn 230.000 đồng. Sau khi biết hành vi phạm tội bị phát hiện, K đưa số tiền còn lại cho mẹ là Nguyễn Thị X T đến khu vực đã bán Tivi tìm người mua để chuộc lại và giao nộp cho Công an xã MP vào lúc 17 giờ 15 phút cùng ngày.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTS ngày 08/7/2022 của Hội đồng định giá thành phố Mỹ Tho kết luận: Tivi màn hình phẳng hiệu Samsung màu đen, 43inch trị giá 4.680.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 93/CT-VKSMT ngày 31/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đã truy tố Lê P K và Trần T C để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (BLHS).
*Tại phiên tòa:
-Bị cáo Lê P K và Trần T C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của hai bị cáo như Cáo trạng đã nêu, không bào chữa về hành vi phạm tội. Bị cáo K xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ để sớm trở về làm lại từ đầu. Bị cáo C cũng xin xem xét mức án nhẹ để sớm về nhà phụ giúp cha mẹ.
-Bà Thủy xác định bà bỏ thêm tiền chuộc Tivi đem về giao nộp để cho các bị cáo được giảm nhẹ tội nên không có yêu cầu gì.
-Chị K xác định chiếc xe mô tô biển số 63P1-9172 trước đây thuộc quyền sở hữu của chị nhưng trước ngày hai bị cáo phạm tội vài ngày chị đã bán cho bà Phan Thị Kim H, đưa giấy tờ xe chứ chưa làm thủ tục sang tên, do đó xe là thuộc sở hữu của bà H.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê P K và Trần T C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê P K và Trần T C phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 38, Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê P K từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS xử phạt bị cáo Trần T C từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Về xử lý vật chứng: Ghi nhận Cơ quan điều tra đã trả lại Tivi cho bị hại và trả lại xe cho bà H; Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kéo màu đỏ, dài 81cm bằng kim loại, sử dụng cắt sắt trong xây dựng; 02 ổ khóa màu vàng (đã bị cắt khóa), trên ổ khóa C ghi chữ Việt tiệp; Tiếp tục lưu giữ dữ liệu điện tử là DVD ghi nhận hình ảnh trích xất từ camera vụ trộm cắp tài sản ngày 01/7/2022.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Lê P K, Trần T C đã khai nhận hành vi phạm tội của hai bị cáo đúng như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát. Lời khai nhận của hai bị cáo phù hợp với lời khai của hai bị cáo tại Cơ quan điều tra, hình ảnh trích xuất từ Camera, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được, đã được Hội đồng xét xử thẩm tra tại phiên tòa, C đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 01/7/2022 bị cáo Lê P K và Trần T C đã C hành vi lén lút trộm cắp của bị hại Võ Thị T P tại Tổ 8 ấp Hội Gia, xã MP, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang 01 Tivi hiệu Samsung màu đen, 43 inch, trị giá 4.680.000 đồng.
Do đó, C đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê P K và Trần T C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS như kết luận của Kiểm sát viên là C căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét thấy, hành vi của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ñaõ trực tiếp xaâm haïi ñeán taøi saûn cuûa người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gaây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật sẽ bị trừng trị nghiêm khắc nhưng chỉ vì lười lao động, có ý thức chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ nhu cầu cá nhân nên hai bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện tội phạm. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo K là người rủ rê và trực tiếp thực hiện tội phạm; bị cáo C với vai trò đồng phạm giúp sức. Bị cáo K có 02 tiền sự. Bị cáo C có 01 tiền án nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với hai bị cáo mới đủ sức răn đe và giáo dục hai bị cáo trở thành công dân tốt.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cân nhắc về việc trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hai bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo K còn có tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 là tự nguyện khắc phục hậu quả và điểm i khoản 1 Điều 51 là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo C thuộc gia đình có công với cách mạng (ông nội là liệt sĩ) thuộc tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ cho hai bị cáo một phần hình phạt.
Đối với người mua Tivi do bị cáo K, C bán, do chưa xác định được họ, tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không triệu tập ghi lời khai được. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, nếu có cơ sở sẽ xử lý sau.
Đối với người tên Thiện nhận giữ cây kéo sắt, qua xác minh không xác định được địa chỉ cụ thể, hiện không còn ở trọ nữa nên Cơ quan điều tra không làm việc được.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Võ Thị T P đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên cần ghi nhận.
Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc Tivi và xe mô tô, Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vật chứng còn lại là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu tiêu hủy: 01 cây kéo màu đỏ, dài 81cm bằng kim loại, sử dụng cắt sắt trong xây dựng;
Đối với 02 ổ khóa màu vàng (đã bị cắt khóa), trên ổ khóa có ghi chữ Việt tiệp, là tài sản của chị P nhưng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định đã thực hiện đều đúng quy định và hợp pháp.
Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử có cân nhắc khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê P K và Trần T C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt:
-Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 38; Điều 50, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê P K 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 27/8/2022.
-Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 38; Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần T C 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 27/8/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận bị hại Võ Thị T P đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 BLHS.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kéo màu đỏ, dài 81cm bằng kim loại, sử dụng cắt sắt trong xây dựng; 02 ổ khóa màu vàng (đã bị cắt khóa), trên ổ khóa có ghi chữ Việt tiệp.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/11/2022)
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo K, bị cáo C, bà T, chị K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị P, ông Đ, bà H, anh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - VKSND Tp Mỹ Tho; - Chi cục THADS Tp Mỹ Tho; - Người tham gia tố tụng; -Tòa án tỉnh; Nguyễn - Lưu: hồ sơ, án văn. | Nguyễn Thị Bảnh` |