vanban.org

Bản án 113/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 30/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Mã Thành V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Mã Thành V 11 (mười một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/01/2022. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mã Thành V phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Mã Thành V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2022/HS-ST
Ngày: 30-6-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn V Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vương Ngọc Anh Đài;

2. Ông Lê Thành Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2022, đối với bị cáo:

Mã Thành V, sinh năm 1995 tại tỉnh Sóc Trăng; hộ khẩu thường trú: ấp 19, xã VT, huyện TT, tỉnh Sóc Trăng; chổ ở: Không nơi cư trú nhất định: nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mã Lý T (đã chết) và Lê Bạch T, sinh năm 1968; Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 28/1/2022 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Nguyễn V D, sinh năm 1990; địa chỉ: Ấp C, xã KBTB, huyện TVT, tỉnh Cà Mau. vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 28/01/2022, Mã Thành V gọi điện thoại cho anh Võ V U (sinh năm 1990, nơi thường trú: ấp 12, xã TP, huyện KS, tỉnh Sóc Trăng) rủ đến sân banh xã AĐ, thị xã Bến Cát chở V đi uống bia thì anh U đồng ý. Sau đó, anh U điều khiển xe mô tô đến chở V đi mua bia và thức ăn về phòng trọ của anh U ở nhà trọ 6C, thuộc ấp AM, xã AĐ, thị xã BC, tỉnh Bình Dương để uống bia.

Khoảng 10 giờ cùng ngày, anh Nguyễn V D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu xanh bạc, biển số 69N1-287.45 của anh D chở vợ là chị Võ Ngọc D1 đi làm về, anh ự Dng xe mô tô trước phòng trọ anh D thuê, thuộc nhà trọ 6C. V nhìn thấy anh D và chị D1 thì đến mời anh D và chị Dẹn ra ngồi ăn và uống bia chung cùng với V và anh U. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, anh D và chị Dẹn không uống bia nữa mà đi vào phòng trọ đóng cửa nghỉ. V và anh U tiếp tục ngồi uống bia thêm khoảng 10 phút nữa thì ngưng. Lúc này, anh U dọn dẹp chỗ ngồi uống bia, còn V nhìn về hướng xe mô tô biển số 69N1-287.45 của anh D thì nảy sinh ý định chiếm đoạt nên lén lU đi lại ngồi lên xe mô tô biển số 69N1-287.45 rồi tìm cách mở khóa, đề máy điều khiển xe chạy hướng ra đường ĐT748. Do dãy hành lang dãy trọ hẹp, phía trước có nhiều xe mô tô nên V đã điều khiển xe chạy vòng ra phía sau nhà trọ để ra cổng. Lúc này, anh D nằm trong phòng nghe tiếng xe mô tô giống xe của mình nên cùng chị Dẹn mở cửa phòng trọ ra xem thì thấy V đang điều khiển xe mô tô biển số 69N1-287.45 nên tri hô rồi chạy theo lối hành lang ra đứng chặn trước cổng phòng trọ. Vừa lúc này, V điều khiển xe mô tô biển số 69N1-287.45 chạy đến cổng nhà trọ thì bị chị D1 nắm được áo V kéo lại làm V và xe mô tô biển số 69N1-287.45 bị ngã xuống. Anh D cùng chị D1 bắt giữ V nhưng V vùng ra bỏ chạy thoát. Trong lúc té ngã, V làm rơi 01 túi xách bằng da có dây đeo vai màu đen bên trong có chứng minh nhân dân của V nên anh D và chị D1 đã đến Công an xã An Điền tố giác hành vi phạm tội của V. Công an xã An Điền mời Mã Thành V làm việc thì V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu xanh bạc, biển số 69N1-287.45; 01 túi xách bằng da có dây đeo vai màu đen bên trong có: 01 chứng minh nhân dân mang tên Mã Thành V, 01 cái máy tính bảng tab nhãn hiệu SamSung, màu đen, 01 chùm chìa khóa, 01 cờ lê kim loại dài khoảng 14cm, 01 điện thoại nhãn hiệu Mastel và số tiền 250.000 đồng.

Theo Kết luận định giá tài sản ngày 09/02/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Bến Cát, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu xanh bạc, biển số 69N1-287.45, trị giá 15.667.000 đồng.

Ngày 06/02/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát xử lý vật chứng, giao trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu xanh bạc, biển số 69N1-287.45 cho anh Nguyễn V D. Anh D không yêu cầu giải quyết gì thêm.

Quá trình điều tra xác định, máy tính bảng tab nhãn hiệu SamSung, màu đen của bà Lê Bạch T (sinh năm 1968, nơi thường trú: ấp 19, xã VT, huyện TT, tỉnh Sóc Trăng), là mẹ ruột của Mã Thành V cho V mượn sử dụng. Ngày 26/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát xử lý vật chứng, giao trả 01 cái máy tính bảng tab nhãn hiệu SamSung cho bà T.

Tại bản Cáo trạng số 97/CT-VKSBC ngày 26/5/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Mã Thành V về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trong phần tranh luận tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Mã Thành V từ 09 tháng đến 11 tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo Mã Thành V đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nội dung Cáo trạng truy tố, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo không có tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại Nguyễn V D vắng mặt tại phiên tòa. Theo lời khai có trong hồ sơ vụ án: ông D đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Mã Thành V đã khai nhận: Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 27/01/2022, tại nhà trọ 6C, thuộc ấp AM, xã AĐ, thị xã BC, tỉnh Bình Dương, Mã Thành V có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo màu xanh bạc, biển số 69N-287.45, trị giá 15.667.000 đồng của anh Nguyễn V D. V điều khiển xe bỏ chạy ra đến cổng nhà trọ 6C thì bị anh D đuổi theo giữ xe lại.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Xét bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết hành vi lén lU chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng vì động cơ tư lợi, ý thức xem thường pháp luật nên bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Tài sản bị cáo chiếm đoạt là xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo màu xanh bạc, biển số 69N-287.45, trị giá 15.667.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho quần chúng nhân dân.

Hành vi của bị cáo Mã Thành V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Như vậy, bản Cáo trạng số 97/CT-VKSBC ngày 26/5/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Mã Thành V về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo màu xanh bạc, biển số 69N-287.45, bị hại không có yêu cầu gì khác về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 túi đeo vai màu đen, trên túi có hình chữ Nike, 01 chùm chìa khóa, 01 cờ lê kim loại dài khoảng 14cm thu của Mã Thành V, do có giá trị không đáng kể nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 chứng minh nhân dân mang tên Mã Thành V, 01 điện thoại hiệu Mastel (không kiểm tra được model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được) và 250.000 đồng là giấy tờ tùy thân và tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 47; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 136, Điều 260, khoản 1 Điều 268, Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Mã Thành V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Mã Thành V 11 (mười một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/01/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 túi đeo vai màu đen, trên túi có hình chữ Nike; 01 chùm chìa khóa; 01 cờ lê kim loại dài khoảng 14cm.

Trả lại bị cáo Mã Thành V: 01 chứng minh nhân dân mang tên Mã Thành V, 01 điện thoại hiệu Mastel (không kiểm tra được model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được) và 250.000 đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng).

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 8/6/2022 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát và Công an thị xã Bến Cát).

4. Về án phí: Bị cáo Mã Thành V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ