- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T Mua bán trái phép hóa đơn - phạm tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (điều 203 Lu…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố b cáo Nguy n Văn T phạm tội “Mua bán trái phép hóa đ n”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 203 Bộ luật Hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 113/2022/HS-ST Ngày: 29-9-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tu n Anh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. ÔngTrần Văn Diện
2. Ông Diêm Trọng Khoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Thu Thủy - Thư ký Tòa án;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Dư ng Th Mai Loan - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự s thẩm thụ lý số: 85/2022/HSST ngày 06 tháng 9 năm 2022 theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 182/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2022 đối với b cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1989; N i cư trú: Khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh BN; Quốc t ch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học v n: 12/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Con ông: Nguy n Văn T1; Con bà: Nguy n Th T2; Có vợ là: Ngô Th H, sinh năm 1995, và 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018.Tiền án, tiền sự: không.
B cáo b tạm giữ từ ngày 01/10/2021 đến ngày 04/10/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn C m đi khỏi n i cư trú. Hiện tại ngoại, Có mặt tại phiên tòa.
, Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan:
1, Nguy n Th H1, sinh năm 1977 (vắng mặt)
Trú tại: Khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh BN
2, Đặng Th Kim T3, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Trú tại: Khu Thọ T, phường T, thành phố T, tỉnh BN
3, Nguy n Th Di m Q, sinh năm 2000 (vắng mặt)
Trú tại: Khu Thọ T, phường T, thành phố T, tỉnh BN
4, Nguy n Th Kim H2, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Trú tại: Khu Thọ T, phường T, thành phố T, tỉnh BN
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH d ch vụ thư ng mại vận tải BS (viết tắt là công ty BS), đ a chỉ tại: Số 125 đường LTK, th tr n L, huyện T, tỉnh BN được thành lập theo gi y chứng nhận kinh doanh số 230089…. do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh BN c p lần đầu ngày 07/10/2015; ngành nghề kinh doanh chính là gia công c khí, bán buôn vải, hàng may sẵn, giày dép và vận tải; Giám đốc, người đại diện theo pháp luật là Trần Thanh S, sinh năm 1970, HKTT: thôn L, th tr n L, huyện T, tỉnh BN.
Đầu tháng 7/2017, Nguy n Văn T mua lại Công ty BS để hoạt động kinh doanh. Ngày 11/7/2017 Công ty BS thay đổi giám đốc, người đại diện pháp luật là Nguy n Văn T, đồng thời, Công ty BS đăng ký bổ sung thêm nhiều ngành, nghề kinh doanh khác chủ yếu mặt hàng sắt thép các loại, cung ứng lao động, xây dựng công trình….
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, do th y nhiều người có nhu cầu mua hóa đ n GTGT khống (không hàng hóa d ch vụ kèm theo) nên T đã bán trái phép hóa đ n GTGT để thu lời b t chính.
Để đảm bảo hoạt động của công ty, T mở tài khoản số 4331000035….. tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV), chi nhánh T, mang tên chủ tài khoản là Công ty TNHH d ch vụ thư ng mại vận tải BS. Đồng thời nhờ ch Nguy n Th H1, sinh năm 1977, HKTT: khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh BN (là người họ hàng của T) đứng tên kế toán trưởng và thuê ch Đặng Th Kim T3, sinh năm 1981, HKTT: khu Thọ T, phường T, thành phố T, tỉnh BN làm kế toán thuế của công ty.
Trong thời gian từ tháng 7/2017 đến tháng 12/2019, Nguy n Văn T đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép hóa đ n để kiếm lời b t chính.
Ngày 01/10/2021 Nguy n Văn T đến C quan CSĐT (PC03) Công an tỉnh BN đầu thú khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra đã xác đ nh hành vi phạm tội của T như sau:
1. Đối với hành vi bán trái phép hóa đơn GTGT:
Khi khách hàng có nhu cầu mua hóa đ n GTGT khống thì trực tiếp liên hệ với T để thống nh t giá cả, cách thức viết hóa đ n, biên bản giao nhận hàng hóa, hợp đồng kinh tế, cách thức giao nhận hóa đ n chứng từ, thanh toán chuyển khoản tiền mua hàng hóa. Việc thanh toán tiền mua hóa đ n khống được trả bằng tiền mặt. Để xu t khống hóa đ n GTGT, T yêu cầu khách hàng cung c p các thông tin về tên hàng hóa, số lượng, chủng loại, tr giá tiền hàng và thông tin doanh nghiệp cần mua khống hóa đ n GTGT. Sau khi có thông tin, T nhờ Nguy n Th Di m Q và Nguy n Th Kim H2 cùng ở: khu Thọ T, phường T, thành phố T, tỉnh BN (là người làm thuê cho cậu ruột của T) soạn thảo hợp đồng kinh tế, viết hóa đ n GTGT, chứng từ giao d ch rồi T chỉ đạo nhân viên công ty hoặc người quen viết phiếu xu t kho, phiếu nhập kho, biên bản giao nhận hàng hóa, sau đó toàn bộ chứng từ chuyển lại cho T để ký tên, đóng d u và giao cho khách hàng. Ngoài ra có nhiều lần T tự ký tên, đóng d u vào hóa đ n, chứng từ sau đó chuyển lại cho khách hàng để họ tự viết nội dung.
Việc thanh toán tiền mua bán hóa đ n GTGT, T yêu cầu khách hàng chuyển đủ số tiền hàng hóa ghi trên hóa đ n vào tài khoản của công ty BS, sau đó T đưa gi y rút tiền mặt, gi y giới thiệu cho nhân viên hoặc người được T nhờ rút tiền tại tài khoản của công ty BS thực hiên việc rút tiền. Toàn bộ số tiền rút từ ngân hàng, những người này đưa lại cho T để T trả lại cho khách sau khi đã trừ đi số tiền bán khống hóa đ n GTGT tư ng đư ng 1,7% tổng tr giá tiền hàng chưa thuế ghi trên hóa đ n. Việc giao nhận bằng tiền mặt không có gi y tờ hoặc sổ sách ghi chép.
Với cách thức trên, trong khoảng thời gian từ tháng 7/2017 đến tháng 12/2019, Nguy n Văn T đã xu t bán khống 705 tờ hóa đ n GTGT cho 109 Công ty với giá bán 1,7% tổng tr giá tiền hàng trước thuế. Tổng giá tr tiền hàng chưa thuế ghi trên hóa đ n 236.744.799.270 đồng, tiền thuế là 23.674.479.927 đồng, cụ thể như sau:
* Các doanh nghiệp sử dụng hóa đơn của Công ty BS có tiền thuế GTGT 100 triệu đồng trở lên hoặc sử dụng 10 số hóa đ n trở lên gồm: 41 doanh nghiệp, cụ thể:
T xu t bán khống 27 hóa đ n cho 02 công ty thông qua đối tượng Nguy n Đức C, sinh năm 1992, HKTT: số 39, ngách 19, ngõ 317 đường T, VQ, HĐ, HN với tổng số tiền hàng chưa thuế là 1.111.384.097 đồng, tiền thuế là 111.138.410 đồng. Hiện nay, Nguy n Đức C đã b C quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang khởi tố, điều tra, xử lý do vậy không đặt ra xem xét trong vụ án này.
Còn 39 công ty, quá trình điều tra: Đại diện của các công ty đều trình bày mua hàng hóa, d ch vụ có thật của công ty BS bằng hình thức gọi điện thoại hoặc gặp trực tiếp để thỏa thuận thông qua người trung gian (không nhớ lai l ch cụ thể). Khi mua bán hàng hóa đều có hóa đ n, chứng từ đầy đủ và thanh toán chuyển khoản theo quy đ nh của pháp luật. Có một số công ty thanh toán bằng tiền mặt đối với tiền hàng dưới 20.000.000 đồng. Quá trình làm việc với C quan điều tra, các công ty này đều xu t trình và cung c p cho C quan điều tra đầy đủ các chứng từ hợp lệ liên quan đến việc mua bán hàng hóa, d ch vụ với Công ty BS. Các doanh nghiệp này đều trình bày không giao d ch trực tiếp với Nguy n Văn T và không biết T là ai, không có hành vi mua khống hóa đ n hoặc trốn thuế.
* Đối với 68 công ty sử dụng hóa đơn khống của công ty BS có tổng giá trị tiền thuế dưới 100 triệu đồng:
C quan Cảnh sát điều tra đã gửi công văn yêu cầu cung c p tài liệu và giải trình về việc nhận hóa đ n của công ty BS. Kết quả điều tra đại diện của 68 công ty đều trình bày mua hàng hóa thật của công ty BS. Khi mua có đầy đủ thủ tục và thanh toán bằng tiền mặt hoặc qua hệ thống tài khoản ngân hàng của hai bên công ty theo đúng quy đ nh và không thừa nhận việc mua hóa đ n b t hợp pháp.
2. Đối với hành vi mua khống hóa đơn GTGT đầu vào:
Để hợp thức việc kê khai báo cáo thuế đối với các số hóa đ n đã xu t bán khống trong từng tháng hoặc từng quý của Công ty BS, T đã liên hệ với một số đối tượng ở Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Giang mua khống 284 số hóa đ n GTGT đầu vào với tổng giá tr tiền hàng ghi trên hóa đ n 236.265.951.832 đồng, tiền thuế là: 23.626.595.183 đồng của 10 công ty với giá mua hóa đ n khống 1,6% tổng tr giá tiền hàng chưa thuế ghi trên hóa đ n, cụ thể như sau:
Khi mua hóa đ n, T yêu cầu bên bán cung c p hóa đ n GTGT hợp đồng kinh tế, phiếu xu t kho, nhập kho, biên bản giao nhận hàng hóa khống… giống như giao d ch có thật, đồng thời cung c p gi y giới thiệu, gi y rút tiền mặt khống đã được ký và đóng d u của đ n v bán hàng để T thực hiện việc thanh toán chuyển khoản và rút tiền tại ngân hàng.
Sau khi nhận hóa đ n, chứng từ khống như đã thỏa thuận, T đưa cho nhân viên hoặc người quen gi y ủy nhiệm chi của Công ty BS đến ngân hàng thanh toán chuyển tiền vào tài khoản của đ n v bán hàng, sau đó đưa gi y giới thiệu, gi y rút tiền mặt khống do đ n v bán hàng cung c p để nhờ người ra ngân hàng rút toàn bộ số tiền vừa chuyển cho đ n v bán hàng về đưa lại cho T. Số tiền rút về T trích trả tiền mua hóa đ n GTGT tư ng ứng với giá 1,6% tổng tr giá tiền hàng chưa thuế ghi trên hóa đ n cho những người T liên hệ mua. Việc thanh toán trả tiền mua khống hóa đ n GTGT bằng tiền mặt, không có gi y tờ, sổ sách ghi chép.
Tiến hành điều tra, xác minh về các Công ty đã xu t bán hóa đ n khống cho T xác đ nh: Các công ty này đều ngừng hoạt động hoặc không có trụ sở, hoặc không hoạt động tại đ a chỉ đăng ký với c quan thuế; giám đốc vắng mặt tại đ a phư ng.
Việc kê khai, báo cáo thuế và báo cáo tài chính cho công ty BS được thực hiện như sau: Khi đến kỳ báo cáo thuế, báo cáo tài chính T chuyển hóa đ n, chứng từ của công ty BS cho ch Đặng Th Kim T3 thực hiện, ch T3 không phải đến công ty BS làm việc và T không trao đổi cho ch T3 biết việc T mua bán trái phép hóa đ n.
Toàn bộ các số hóa đ n GTGT mua vào và bán ra đã được Công ty BS kê khai báo cáo thuế tại Chi cục thuế khu vực TS- YP.
3. Về số tiền hƣởng lợi từ việc mua bán trái phép hóa đơn:
Với việc mua hóa đ n GTGT đầu vào với giá 1,6%/ tổng giá tr tiền hàng chưa thuế ghi trên hóa đ n và bán ra với giá 1,7%/ tổng giá tr tiền hàng chưa thuế ghi trên hóa đ n như đã nêu trên, Nguy n Văn T đã được hưởng lợi như sau:
- Số tiền mua khống 284 số hóa đ n GTGT đầu vào là: 236.265.951.832 đồng x 1,6% = 3.780.255.229 đồng.
- Số tiền bán khống 705 số hoá đ n GTGT đầu ra là: 236.744.799.270 đồng x 1,7% = 4.024.661.588 đồng.
- Số tiền hưởng lợi b t chính từ việc mua bán trái phép hóa đ n GTGT là: 4.024.661.588 đồng - 3.780.255.229 đồng = 244.406.359 đồng
Quá trình điều tra, Nguy n Văn T đã tự nguyện giao nộp 244.500.000 đồng để khắc phục hậu quả cho hành vi phạm tội của mình.
Với nội dung trên, tại Cáo trạng số 58/CTr-VKS-P1 ngày 03/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Nguy n Văn T về tội “Mua bán trái phép hóa đ n” theo điểm d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, b cáo Nguy n Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. B cáo thừa nhận sau khi mua lại công ty TNHH d ch vụ thư ng mại vận tải BS với ngành nghề kinh doanh gia công c khí, bán buôn vải, hàng may sẵn, giày dép và vận tải, sắt thép các loại, cung ứng lao động, xây dựng công trình...để hoạt động kinh doanh thư ng mại, do th y có nhiều người có nhu cầu mua khống hóa đ n GTGT và việc mua, bán khống hóa đ n GTGT d dàng thực hiện để kiếm lợi b t chính nên từ tháng 7/2017 đến tháng 12/2019 b cáo đã xu t bán khống 705 số hóa đ n GTGT mang tên công ty BS cho các doanh nghiệp với tổng tr giá tiền hàng là 236.744.799.270 đồng, tiền thuế 23.674.479.927 đồng, với giá 1,7% giá tr tiền hàng ghi trên hóa đ n. Để hợp thức hóa việc kê khai báo cáo thuế cho công ty BS, T đã mua khống 284 hóa đ n GTGT đầu vào của các công ty ở Hải Phòng, Hà Nội, Bắc Giang với tổng tr giá tiền hàng là 236.265.951.832 đồng, tiền thuế là 23.626.595.183 đồng, với giá 1,6%/ giá tr tiền hàng hóa ghi trên hóa đ n. Với việc mua, bán khống hóa đ n GTGT nêu trên b cáo đã thu lợi b t chính 244.406.359 đồng. Quá trình điều tra b cáo đã tự nguyện nộp 244.500.000 đồng tiền thu lợi b t chính để khắc phục hậu quả. B cáo thừa nhận cáo trạng truy tố b cáo là đúng người, đúng tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội đã giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Căn cứ vào hành vi phạm tội; tính ch t, mức độ nguy hiểm của hành vi; căn cứ vào nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề ngh Hội đồng xét xử tuyên bố b cáo Nguy n Văn T phạm tội “Mua bán trái phép hóa đ n”.
Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt b cáo Nguy n Văn T từ 300.000.000 đồng đến 350.000.000 đồng sung Ngân sách nhà nước. Xác nhận b cáo T đã nộp 200.200.000 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2021/0000633 ngày 28/9/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
T ch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 244.406.359 đồng là tiền thu lợi b t chính mà b cáo T giao nộp.
B cáo T không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề ngh HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho b cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng:Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy đ nh của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra b cáo cùng những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết đ nh của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết đ nh, hành vi của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về tội danh: Xem xét lời khai của b cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của b cáo tại c quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ s vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử th y có đủ c sở khẳng đ nh: Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2017 đến tháng 12/2019 Nguy n Văn T đã xu t bán khống 705 số hóa đ n GTGT mang tên công ty BS cho các doanh nghiệp với tổng tr giá tiền hàng là 236.744.779.270 đồng, tiền thuế 23.674.479.927 đồng, với giá 1,7% giá tr tiền hàng ghi trên hóa đ n. Để hợp thức hóa việc kê khai báo cáo thuế cho công ty BS, T đã mua khống 284 hóa đ n GTGT đầu vào của các công ty ở Hải Phòng, Hà Nội, Bắc Giang với tổng tr giá tiền hàng là 236.265.951.832 đồng, tiền thuế là 23.626.595.183 đồng, với giá 1,6%/ giá tr tiền hàng hóa ghi trên hóa đ n. Với việc mua, bán khống hóa đ n GTGT nêu trên b cáo đã thu lợi b t chính 244.406.359 đồng. Do đó hành vi của b cáo đã c u thành tội “Mua bán trái phép hóa đ n” với tình tiết đ nh khung được quy đ nh tại điểm d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật hình sự đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố.
Hành vi phạm tội của b cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước trong l nh vực thuế, tài chính, làm ảnh hưởng x u đến môi trường sản xu t, kinh doanh. B cáo chỉ vì hám lợi mà phạm tội nên cần xử phạt nghiêm minh nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi hành vi phạm tội của b cáo b phát hiện b cáo đã tự nguyện đến C quan Công an đầu thú, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay b cáo T đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải và tự nguyện giao nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi b t chính đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy đ nh tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 của Điều 51 Bộ luật hình sự. B cáo không có tình tiết tăng nặng. B cáo có nhân thân tốt nên xét th y chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với b cáo cũng đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về vật chứng và các biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 244.406.359 đồng là tiền thu lời b t chính của b cáo T do vậy cần buộc b cáo phải giao nộp lại để sung Ngân sách nhà nước. Xác nhận b cáo T đã giao nộp số tiền 244.500.000 đồng.
Liên quan trong vụ án có Nguy n Th H1- Kế toán trưởng công ty, chỉ được T nhờ đứng tên kế toán trưởng, ký tên vào gi y tờ, chứng từ liên quan đến việc mở tài khoản, các chứng từ giao d ch với ngân hàng; Đặng Th Kim T3 có vai trò là kế toán thuế của Công ty BS, T3 có nhiệm vụ tập hợp các hóa đ n chứng từ của Công ty để lập bảng kê, báo cáo thuế tại nhà riêng của T3 để báo cáo thuế đ nh kỳ. Bản thân H1, T3 không tham gia, không biết gì về hoạt động của công ty BS, không được T trao đổi, thỏa thuận gì hay được hưởng lợi gì liên quan đến hành vi mua bán trái phép hóa đ n GTGT nên C quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với Nguy n Th Di m Q, Nguy n Th Kim H2 là người giúp Nguy n Văn T viết nội dung hóa đ n GTGT khống theo chỉ đạo của T. Bản thân Q và H2 không được T trao đổi, thỏa thuận hay cho hưởng lợi gì từ việc mua bán hóa đ n nên C quan điều tra không đề ngh xử lý.
Đối với người có tên K, H4, K1 mà T đã trực tiếp liên hệ để mua khống hóa đ n GTGT đầu vào, do không có thông tin về nhân thân, lai l ch nên C quan điều tra chưa đủ c sở để điều tra, xác minh khi nào có căn cứ C quan điều tra sẽ đề ngh xử lý sau.
Đối với 25 người được T nhờ đi rút tiền tại tài khoản ngân hàng của Công ty BS, gồm: Nguy n Th P; Nguy n Th Đ; Nguy n Đại D; Nguy n Th Thu H3; Lê Th T1; Nguy n Th H5; Nguy n Phư ng T3; Trần Th L; Chu Tam H3; Trần Chí Q1; Nguy n Công H4; Trần Th H5; Lê Mạnh H6; Nguy n Th Thu H7; Nguy n Văn H8; Nguy n Th M; Trần Th D1; Đỗ Th L1; Ngô Th H; Lê Th N; Nguy n Th T5; Nguy n Th Di m Q; Nguy n Th H1; Lê Th S; Nguy n Đăng P1. T t cả đều không được T trao đổi, bàn bạc thỏa thuận hay hưởng lợi gì về hành vi mua bán trái phép hóa đ n GTGT nên C quan điều tra đã tiến hành giáo dục, nhắc nhở là phù hợp.
Đối với Nguy n Đức C, sinh năm 1992, HKTT: số 39, ngách 19, ngõ 317 đường T, VQ, HĐ, HN - Là người trung gian mua 27 số hóa đ n GTGT của Công ty BS để bán cho 02 doanh nghiệp: Công ty TNHH Tae Kyung Tech Vina; Công ty Smart Tech Vina. Đến nay, Nguy n Đức C đã b C quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang khởi tố, điều tra, do vậy C quan điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh không xem xét xử lý trong vụ án này là phù hợp.
Đối với 10 công ty đã xu t khống hóa đ n GTGT đầu vào cho Công ty TNHH d ch vụ thư ng mại vận tải BS, C quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh sẽ tách tài liệu để chuyển đến C quan điều tra của các đ a phư ng để tiếp tục điều tra xử lý theo quy đ nh của pháp luật.
Đối với 68 công ty sử dụng hóa đ n của Công ty TNHH d ch vụ thư ng mại vận tải BS, có tổng tr giá tiền thuế dưới 100 triệu đồng hoặc sử dụng dưới 10 số hóa đ n GTGT, không thừa nhận việc sử dụng b t hợp pháp hóa đ n và không đủ căn cứ để xem xét, xử lý hình sự, C quan điều tra có văn bản đề ngh c quan quản lý Thuế các đ n v này biết để xử lý theo quy đ nh của pháp luật.
Đối với 41 công ty đầu ra của Công ty TNHH d ch vụ thư ng mại vận tải BS có số tiền thuế trên 100 triệu đồng hoặc tiền thuế dưới 100 triệu đồng nhưng sử dụng từ 10 số hóa đ n có ghi nội dung trở lên, với các tài liệu điều tra chưa đủ c sở xác đ nh các doanh nghiệp này có hành vi mua khống hóa đ n để trốn thuế hay mua bán trái phép hóa đ n. C quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, khi nào có đủ căn cứ sẽ đề ngh xử lý sau, đồng thời có công văn trao đổi với c quan quản lý Thuế xem xét xử lý theo quy đ nh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố b cáo Nguy n Văn T phạm tội “Mua bán trái phép hóa đ n”.
Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 35 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy đ nh về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14;
Xử phạt: Nguy n Văn T 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước. Xác nhận b cáo Nguy n Văn T đã nộp 200.200.000đ (Hai trăm triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số AA/2021 0000633 ngày 28/9/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
2. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: T ch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền thu lời b t chính của b cáo T là 244.406.359 đồng. Xác nhận b cáo Nguy n Văn T đã giao nộp số tiền là 244.500.000 đồng (Theo Quyết đ nh chuyển vật chứng số 58/QĐ-VKS-P1 ngày 30/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh và Biên lai thu tiền số AA/2021/0000425 ngày 04/7/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).
3. Về án phí: B cáo Nguy n Văn T phải ch u 200.000 đồng tiền án phí hình sự s thẩm.
B cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy đ nh./.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND Cấp cao; - VKSND tỉnh Bắc Ninh - Phòng PC 10, Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; - Cơ quan điều tra (PC01), Công an tỉnh Bắc Ninh; - Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh; - Bị cáo, người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Tuấn Anh |