vanban.org

Bản án 113/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 28/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Cấm đi khỏi nơi cư trú, thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú được tính kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần xử tịch thu, tiêu hủy 01 con dao dài 22 cm, lưỡi dao bằng kim loại sáng màu dài 12 cm, bản rộng 05 cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10 cm; 01 kéo bằng kim loại dài 20 cm, lư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Cấm đi khỏi nơi cư trú, thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú được tính kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2022/HS-ST
Ngày 28-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Mão

Bà Phạm Thị Bấm

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Thủy - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Nhật Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 106/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2022/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Hồng T, sinh ngày 06 tháng 10 năm 1981 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Số Tập thể, đường Nguyễn Hữu T, phường Gi, quận Ng, thành phố H; nơi tạm trú: Số đường Đ, phường L, quận N, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang Sinh (đã chết) và bà Nguyễn Thị Tuyết; có vợ là Dương Thị Thương (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: 01 tiền án: Bản án số 22/2018/HS-ST ngày 12/4/2018 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xét xử 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, Nguyễn Hồng T chưa thi hành án phí và số tiền sung công quỹ

05/9/1996, Tòa án nhân Nhà nước (chưa xóa án tích); bản án số 312/HSST ngày dân thành phố Hải Phòng xét xử 2 năm 6 tháng tù về tội Cướp tài sản của công dân (đã xóa án tích); bản án số 188/HSST ngày 18/7/2001, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử 08 năm tù về tội Cướp tài sản (đã xóa án tích).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/4/2022; có mặt.

- Bị hại: Bà Lồ A S, sinh năm 1962; nơi cư trú: Số 25/182 đường Đà Nẵng, phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 05/4/2022, Nguyễn Hồng T đi bộ một mình trên đường Đà Nẵng theo hướng từ ngã 6 Lê Hồng Phong về chợ Đà Nẵng. Khi đi đến đầu ngõ 182 Đà Nẵng, Lạc Viên, Ngô Quyền, Hải Phòng thì T gặp bà Lồ A S là hàng xóm gần nhà T. Tại đây, T và bà S có lời qua tiếng lại cãi chửi nhau dẫn đến 02 bên xảy ra xô xát. Bà S lấy 01 chiếc ghế bằng inox của quán bán bánh bèo ngay tại đó dọa T. Thấy vậy, T cũng lấy 01 chiếc ghế inox (giống chiếc ghế bà S cầm) tại quán bán bánh để dọa lại. Bà S tiếp tục chửi T. T dùng chiếc ghế đang cầm trên tay phải đánh bà S, bà S dùng ghế đỡ và đánh trả. Hai bên lao vào dùng ghế đánh nhau. Bà S giằng được chiếc ghế từ tay T. T vơ lấy 01 con dao dài khoảng 22cm, lưỡi dao bằng kim loại sáng màu dài 12 cm, bản rộng 05 cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10 cm, để trên mặt bàn quán bán bánh bèo đâm về phía bà S. Bà S dùng 02 ghế đang cầm trên tay đánh trả và lùi lại phía sau để tránh nên không bị thương tích gì. T tiếp tục áp sát người bà S và giằng lại được 01 chiếc ghế bà S đang cầm trên tay. Do lúc này bà S đã lùi ra đến giữa đường, đông phương tiện xe qua lại nên T không tấn công bà S nữa mà quay trở lại quán bán bánh bèo và để con dao lại vị trí ban đầu. Bà S tiếp tục tiến lại gần chửi T. T liền vơ lấy 01 chiếc kéo dài khoảng 20 cm, lưỡi dài 15 cm, cán nhựa màu đen dài 05 cm trên mặt bàn quán bánh bèo cầm trên tay phải, tay trái T cầm 01 chiếc ghế inox. T lao vào dùng ghế đánh bà S nhưng bà S đỡ được và giữ chặt lấy chiếc ghế T đang cầm trên tay. Lúc này, Tuyển tiếp tục áp sát, xô đẩy bà S rồi dùng kéo trên tay phải đâm một nhát trúng vào vùng lưng bên trái của bà S khiến bà S bị thương chảy máu. Thấy vậy, T không tấn công bà S nữa mà quay trở lại bàn bán bánh bèo và để lại cái kéo về vị trí cũ. Bà S sau đó được người dân xung quanh đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Việt Tiệp. Sau khi sự việc xảy ra, anh Lồ Phi Long là cháu của bà S đã đến Công an phường Lạc Viên trình báo sự việc.

Cùng ngày, Nguyễn Hồng T đã đến Công an phường Lạc Viên đầu thú.

Ngày 22/4/2022, bà Lồ A S có đơn đề nghị khởi tố vụ án hình sự về hành vi cố ý gây thương tích của T.

Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của Nguyễn Hồng T: 01 con dao dài 22 cm, lưỡi dao bằng kim loại sáng màu dài 12 cm, bản rộng 05 cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10 cm; 01 kéo bằng kim loại dài 20 cm, lưỡi dài 15 cm, cán nhựa màu đen dài 05 cm.

- 02 ghế inox, mặt ghế hình tròn đường kính 30 cm, cao 60 cm là đồ vật T và bà S S dụng để đánh nhau trong lúc xô xát.

- Thu tại hiện trường: 02 dép nhựa màu đen là dép của bị hại Lồ A S

Ngày 23/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại 02 ghế inox trên cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị Tuyết Ng (sinh năm 1973, trú tại: Số 258 Đà Nẵng, phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, Hải Phòng) là chủ quán bán bánh bèo.

Tại Bản kết luận giám định pháp y số 140/2022/TgT ngày 13/4/2022 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do vết thương vùng lưng trái gây nên là 01%. Tổn thương màng phổi trái còn dẫn lưu khoang màng phổi trái và các tổn thương khác nếu có trong hồ sơ bệnh án, khi nào nạn nhân ra viện, đề nghị Cơ quan CSĐT cho giám định bổ sung sau.

Ngày 06/5/2022, Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền đã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung gửi Trung tâm pháp y Hải Phòng, yêu cầu bà Lồ A S đi giám định bổ sung thương tích nhưng bà S có đơn từ chối giám định bổ sung thương tích.

Ngày 07/5/2022 và ngày 20/5/2022, Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền ban hành các Quyết định dẫn giải bị hại Lồ A S đi giám định bổ sung thương tích nhưng bà S từ chối không giám định bổ sung thương tích.

Xác minh tại địa phương, bà Lồ A S thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú. Ngày 30/6/2022, Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền đã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung gửi Trung tâm pháp y Hải Phòng yêu cầu giám định bổ sung thương tích của bà Lồ A S qua hồ sơ bệnh án.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích qua hồ sơ số 334/2022/TgT ngày 15/7/2022 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết phẫu thuật dẫn lưu màng phổi trái gây nên là 01%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương màng phổi trái gây nên là 03%. Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 140/2022/TgT của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân là 01 %. Như vậy tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do các thương tích trên gây nên theo phương pháp cộng tại Thông tư là 05%.

Về trách nhiệm dân sự: bà S không yêu cầu T phải bồi thường thiệt hại.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hồng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Lời khai nhận tội của bị can Nguyễn Hồng T phù hợp lời khai bị hại Lồ A S, lời khai người làm chứng, đơn xin đầu thú, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 119/CT-VKSNQ ngày 13/9/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo về tội "Cố ý gây thương tích", quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng.

Bị hại bà Lồ A S vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt bà và có ý kiến không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng T với mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích".

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét giải quyết nên không đặt ra để giải quyết.

- Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần xử tịch thu, tiêu hủy 01 con dao dài 22 cm, lưỡi dao bằng kim loại sáng màu dài 12 cm, bản rộng 05 cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10 cm; 01 kéo bằng kim loại dài 20 cm, lưỡi dài 15 cm, cán nhựa màu đen dài 05 cm và 02 dép nhựa màu đen đã cũ. Đối với 02 ghế inox đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị Tuyết Ng nên không đặt ra để giải quyết.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc vắng mặt của bị hại: Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có trình bày quan điểm giải quyết vụ án nên việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo các điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về tội danh:

+ Về căn cứ xác định bị cáo có tội:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ tang vật, bản kết luận giám định pháp y và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. Lời khai khẳng định: Khoảng 14 giờ ngày 05/4/2022, tại đầu ngõ 182 Đà Nẵng, phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền, xuất phát từ mâu thuẫn cãi chửi nhau giữa Nguyễn Hồng T và bà Lồ A S, Nguyễn Hồng T đã dùng 01 chiếc kéo bằng kim loại dài 20 cm, lưỡi dài 15 cm, cán nhựa màu đen dài 05 cm đâm vào vùng lưng trái của bà S, gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 05%. Theo quy định tại tiểu mục 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003: “Các vật trên nếu S dụng để tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khỏe của người bị tấn công thì được coi là dùng hung khí nguy hiểm”. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự của Bộ luật Hình sự.

Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo đã có một tiền án chưa được xoá nên phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

+ Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị hại cũng có một phần lỗi và bị cáo đã ra đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

+ Về hình phạt đối với bị cáo:

Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa; sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xoá án tích, có 02 tiền án đã được xoá án tích nhưng với lần phạm tội này cũng cần đánh giá bị cáo có nhân thân xấu nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tại Cơ sở giam giữ một thời gian theo khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

+ Về biện pháp ngăn chặn:

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú được tính kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù theo khoản 1 Điều 109 và Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Về trách nhiệm dân sự:

Bà S không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

+ Về vật chứng vụ án:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần xử tịch thu, tiêu hủy 01 con dao dài 22 cm, lưỡi dao bằng kim loại sáng màu dài 12 cm, bản rộng 05 cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10 cm; 01 kéo bằng kim loại dài 20 cm, lưỡi dài 15 cm, cán nhựa màu đen dài 05 cm; 02 dép nhựa màu đen đã cũ là tang vật vụ án, không còn giá trị S dụng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 9 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Đối với 02 ghế inox đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị Tuyết Ng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

+ Về án phí:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và S dụng án phí và lệ phí Toà án.

+ Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 109 và Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng T 18 (mười tám) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Cấm đi khỏi nơi cư trú, thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú được tính kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần xử tịch thu, tiêu hủy 01 con dao dài 22 cm, lưỡi dao bằng kim loại sáng màu dài 12 cm, bản rộng 05 cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10 cm; 01 kéo bằng kim loại dài 20 cm, lưỡi dài 15 cm, cán nhựa màu đen dài 05 cm; 02 dép nhựa màu đen đã cũ, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 9 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và S dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Hồng T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo bản án:

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ