vanban.org

Bản án 113/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội Tuyên án 10/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phan S phạm tội Trộm cắp tài sản.

Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố: Bị cáo Phan S phạm tội Trộm cắp tài sản. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan S phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự giảm một phần hình phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2022/HS-ST
Ngày: 10/06/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Ngân

Bà Phạm Thị L Anh

Các Hội Thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Mỹ – Thư ký Tòa án nhân

dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà

Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 06 năm 2022 tại trụ sở, Tòa án nhân dân quận Cầu

Giấy, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 97/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Phan S; sinh năm 1995; Giới tính: Nam ĐKHKTT: Tổ AA thị trấn A,

huyện B, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Con ông: Phan Như T sinh năm 1962; Con bà: Đàm Thị Diệu T sinh năm 1975; Gia đình có 02 con, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là Văn Thị N, có con nhỏ sinh năm 2021; Danh chỉ bản số 110 lập ngày 28/3/2022 tại Công an quận Cầu Giấy; Tiền án, tiền sự: Không; Đầu thú ngày 28/02/2022; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. – Có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại:

Anh Nguyễn Văn L - sinh năm 1993, HKTT tại phường T, quận D,

Hà Nội. – Có đơn xin Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 26/02/2022, Công an phường Y tiếp nhận đơn của Nguyễn Văn

L (SN: 1993, HKTT: phường T, quận D, Hà Nội) trình báo sự việc: Phòng tập Gym tại địa chỉ: tòa nhà X, phường Y, Cầu Giấy, Hà Nội do anh L làm quản lý bị mất trộm số tiền 4.000.000 đồng. Anh L nghi ngờ cho nhân viên là Phan S lấy trộm số tiền trên.

Quá trình xác minh, xác định:

Phan S là giáo viên dạy bơi làm việc từ ngày 14/02/2022 tại Phòng tập

Gym của anh L (chưa được ký hợp đồng lao động). Ngày 23/02/2022, S đến phòng tập và ngồi tại quầy đón khách do nhân viên lễ tân là chị Võ Phương A (SN: 2000, HKTT: xã U, huyện V, tỉnh R) nghỉ làm. Khoảng 9h cùng ngày, có 01 nhân viên điện lực đến thu tiền điện. Khi đó, S mở ngăn kéo bàn ở quầy lễ tân thì thấy bên trong có 04 phong bì đều dựng tiền của phòng tập (do bên ngoài ghi số tiền và viết thông tin hội viên câu lạc bộ). S hẹn người thu tiền chiều quay lại sau vì không biết phải đóng những khoản gì. Sau đó. S mở ngăn kéo tiếp tục kiểm tra thì thấy: 01 phong bì có 4.000.000 đồng, 01 phong bì có khoảng gần 3.000.000 đồng và 02 phong bị mỗi chiếc có vài trăm ngàn đồng. Lúc này, S nảy sinh ý định trộm cắp do cần tiền để chơi game trên mạng. S di chuyển ghế ngồi để camera ở quầy lễ tân không quay được rõ vào ngăn kéo rồi đứng dậy đi ra ngoài. Khoảng 05 - 10 phút sau, S quay lại ngồi xuống ghế, chắn trước camera, mở ngăn kéo lấy ra 01 phong bị đụng 4.000.000 đồng rồi cất vào túi quần phía trước bên trái và đóng ngăn kéo lại. Sau đó, S di ra ngoài, lấy tiền cất vào túi quần và vút phong bì dụng tiền ở thùng rác cạnh lối lên tòa nhà rồi tiếp tục đi làm. Khoảng 16h cùng ngày, S đến Ngân hàng N. S chuyển số tiền vừa lấy trộm được vào tài khoản ngân hàng số 0011053 của S. Tiếp đó, S chuyển tiền đến tài khoản số 1023 mang tên Nghiêm Thị T mở tại Ngân hàng N để quy đổi S tiền ảo chơi game trên trang web lucky88.tv và đã chơi thua hết. Sau đó, S vẫn đi làm như bình thường. Đến khoảng 13h30’ ngày 26/02/2022, anh L hỏi có phải S lấy tiền của phòng tập không thì S nói không phải. Khoảng 16h38’ cùng ngày, S nhắn tin bằng tài khoản zalo của S cho anh L thừa nhận đã lấy tiền của phòng tập. Ngày 28/02/2022, S đến Công an phường Y đầu thú.

Tại Cơ quan Công an, Phan S đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai

của S phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Văn L, lời khai của chị Võ Phương A và các tài liệu khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Cơ quan điều tra đã có văn bản gửi Phòng PA05 Công an thành phố Hà Nội đề nghị phối hợp xác minh thông tin chủ sở hữu trang web lucky88.tv, xác định: Trang web trên có máy chủ đặt tại Hoa Kỳ nên không có thông tin chủ sở hữu để cung cấp.

Tiến hành xác minh thông tin tài khoản số 10233 mang tên Nghiêm

Thị T mở tại Ngân hàng N, xác định: Chủ tài khoản là Nghiêm Thị T, SN: 1974, Nơi thường trú: xã E, huyện G, tỉnh K, căn cước công dân số 0371008. Cơ quan điều tra đã xác minh tại xã E, huyện G, tỉnh K, xác định: Tại địa phương không có ai là Nghiêm Thị T có thông tin như trên cư trú.

Về việc sử dụng số tiền đã trộm cắp, S khai: S nạp tiền để chơi game

trên trang web nhưng không nhớ đã chơi những trò gì, trang web không lưu lại lịch sử trò chơi, hiện tài khoản của S đã bị xóa. S không quy đổi từ tiền ảo S tiền Việt Nam đồng. Cơ quan điều tra không thu giữ được lịch sử đăng nhập trang web trên của S. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với hành vi S nạp tiền để chơi trò chơi trên trang web lucky88.tv.

Về dân sự: Bà Đàm Thị Diệu T - mẹ của Phan S đã giao nộp số tiền

4.000.000 đồng cho Cơ quan điều tra để khắc phục cho anh Nguyễn Văn L. Ngày 22/04/2022, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại số tiền trên cho anh L. Sau khi nhận tiền, anh L không có yêu cầu gì khác về dân sự.

Bản cáo trạng số 92/CT-VKSCG ngày 16/05/2022, Viện kiểm sát

nhân dân quận Cầu Giấy đã truy tố bị cáo Phan S tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy giữ

nguyên quan điểm truy tố nêu trên và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Phan S từ tháng tù 7 đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách từ 14 đến 18 tháng .

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị

cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án

đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận

Cầu Giấy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu

nại về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo Phan S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội

phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu.

Xét lời khai của bị cáo là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra,

phù hợp lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được của vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10h ngày 23/02/2022, tại Phòng tập Gym, địa chỉ: tòa nhà X, phường Y, Cầu Giấy, Hà Nội, Phan S đã có hành vi Trộm cắp 4.000.000 đồng của phòng tập do anh Nguyễn Văn L làm quản lý. Tài sản đã trả cho người bị hại. Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về dân sự.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định

tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp

xâm phạm tài sản của công dân và gây mất trật tự trị an xã hội. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xem xét thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đầu thú. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả cho người bị hại, bị hại không có yêu cầu gì. Đây là tình tiết để áp dụng điểm b,s,i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng ổn định, nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng lượng khoan hồng cải tạo ngoài xã hội

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có công việc ổn định nên

không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì về phần dân sự đối với bị cáo

nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phan S phạm tội Trộm cắp tài sản.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b,i,s khoản 1 Điều 51; Điều 65

Bộ luật hình sự.

- Điều 135, 136, 331, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Phan S 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn

thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân thị trấn A, huyện B, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm

nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên

án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi cư trú.

Cỡ chữ