vanban.org

Bản án 113/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trịnh Y về việc xin ly hôn. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Trịnh Y được ly hôn chị Nguyễn Thị P. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "YÊN PHƯƠNG"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2022/HNGĐ-ST
Ngày 20/6/2022
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Giang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Hữu Bình

2. Bà Lý Thúy Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Thương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

- Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2022 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 58/2022/HNGĐ-ST, ngày 08/4/2022 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 02/6/2022, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Trịnh Y, sinh năm 1982

Địa chỉ: Tổ dân phố 6, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang

* Bị đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1990

Địa chỉ: Tổ dân phố 14, phường P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang

Hiện chị P đang chấp hành án tại Phân trại số 1, Trại giam T, Bộ Công an.

Anh Trịnh Y và chị Nguyễn Thị P đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn anh Trịnh Y trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị P lấy nhau và đăng ký kết hôn vào ngày 17/4/2015 tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống tại tổ 06, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Thời gian đầu chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Đến cuối năm 2019 tình cảm vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh và chị P không hợp nhau về tư tưởng cũng như cách sống, điều đó đã ảnh hưởng đến tâm lý dẫn đến vợ chồng luôn bất đồng và không tìm được tiếng nói chung để hòa giải được. Hiện nay chị P đang phải chấp hành án phạt tù tại Trại giam T, Bộ Công an. Anh xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng thực sự không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị P.

Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị P có 03 con chung là cháu Trịnh Hồng A, sinh ngày 21/4/2016; cháu Trịnh Thành N, sinh ngày 13/8/2019; và cháu Trịnh L, sinh ngày 31/7/2020. Hiện nay 03 con chung đang ở cùng anh Y. Sau khi vợ chồng ly hôn, anh Y có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 con chung và không yêu cầu chị P phải cấp dưỡng nuôi con chung (do hiện nay chị P đang phải chấp hành án phạt tù).

Về tài sản chung: Anh và chị P có tài sản chung và đã tự thỏa thuận xong, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vay nợ chung: Anh và chị P không vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Nguyễn Thị P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trịnh Y lấy nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 17/4/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống tại tổ 06, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Đến cuối năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chị P vi phạm pháp luật và hiện nay đang phải chấp hành án phạt tù tại Trại giam T, Bộ Công an. Nay anh Y đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị, chị nhất trí. Do chị đang phải chấp hành án phạt tù nên chị đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và chị xin vắng mặt tại các phiên họp, hòa giải và phiên tòa.

Về con chung: Chị và anh Trịnh Y có 03 con chung là cháu Trịnh Hồng A, sinh ngày 21/4/2016; cháu Trịnh Thành N, sinh ngày 13/8/2019; và cháu Trịnh L, sinh ngày 31/7/2020. Hiện nay 03 con chung đang ở cùng anh Y. Sau khi vợ chồng ly hôn, anh Y có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 con chung và không yêu cầu chị phải cấp dưỡng nuôi con chung, chị hoàn toàn nhất trí.

Về tài sản chung: Chị và anh Y có tài sản chung và đã tự thỏa thuận xong, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vay nợ chung: Chị và anh Y không vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, do bị đơn (chị Nguyễn Thị P) đang phải chấp hành án phạt tù tại Trại giam T, Bộ Công an nên Toà án không mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được; Tòa án cũng đã công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đối với từng nguyên đơn và bị đơn; nguyên đơn và bị đơn đều nhất trí với các tài liệu, chứng cứ đã được công bố và nhất trí ly hôn; nguyên đơn và bị đơn đều nhất trí giao 03 con chung cho anh Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau ly hôn và không yêu cầu chị P phải cấp dưỡng nuôi con chung, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản; vay nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, anh Trịnh Y và chị Nguyễn Thị P đều có đơn xin xét xử vắng mặt, các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến như đã trình bày, không ai bổ sung yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Từ khi thụ lý đơn và trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đảm bảo đúng theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự; Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật, trình tự tại phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật; Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70; Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trịnh Y về việc xin ly hôn chị Nguyễn Thị P.

Về con chung: Giao cháu Trịnh Hồng A, sinh ngày 21/4/2016; cháu Trịnh Thành N, sinh ngày 13/8/2019; và cháu Trịnh L, sinh ngày 31/7/2020 cho anh Trịnh Y trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Nguyễn Thị P không phải cấp dưỡng nuôi con chung (do anh Y không yêu cầu) và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Anh Trịnh Y và chị Nguyễn Thị P đều xác nhận có tài sản chung nhưng đã tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về vay nợ chung: Anh Trịnh Y và chị Nguyễn Thị P đều xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh Trịnh Y phải nộp án phí hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đều cư trú tại thành phố Tuyên Quang, căn cứ Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho nguyên đơn và bị đơn. Ngày 08/4/2022, Toà án thụ lý vụ án và gửi thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các đương sự; do bị đơn đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam T, Bộ Công an nên Toà án không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được. Tòa án cũng đã công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đối với từng nguyên đơn và bị đơn. Như vậy, quyền và nghĩa vụ của các đương sự đã được thực hiện đầy đủ, đúng quy định. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trịnh Y và chị Nguyễn Thị P lấy nhau và đăng ký kết hôn vào ngày 17/4/2015 tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa anh Y và chị P là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống tại tổ 06, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Thời gian đầu chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Đến cuối năm 2019 tình cảm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, hiện nay chị P đang phải chấp hành án phạt tù tại Trại giam T, Bộ Công an. Anh Y và chị P đều xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên đều nhất trí ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Y và chị P đã trầm trọng, mục đích hôn nhân nhằm xác lập quan hệ vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc, bền vững đã không thể đạt được. Vì vậy, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trịnh Y xin ly hôn chị Nguyễn Thị P.

Về con chung: Anh Trịnh Y và chị Nguyễn Thị P có 03 con chung là cháu Trịnh Hồng A, sinh ngày 21/4/2016; cháu Trịnh Thành N, sinh ngày 13/8/2019; và cháu Trịnh L, sinh ngày 31/7/2020. Hiện nay 03 con chung đang ở cùng anh Y. HĐXX thấy: Hiện nay chị P đang phải chấp hành án phạt tù nên không có đủ điều kiện nuôi con, vì vậy cần giao 03 con chung cho anh Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp nên cần chấp nhận. Anh Y không yêu cầu giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Trịnh Y và chị Nguyễn Thị P xác định vợ chồng có tài sản chung nhưng đã tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về vay nợ chung: Anh Trịnh Y và chị Nguyễn Thị P xác định vợ chồng không có vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Anh Trịnh Y phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị P không phải chịu án phí của vụ án.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Các Điều 28; 35; 39; 147; Điều 227; 228; 266; 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Các Điều 51; 56; 58; 81; 82; 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trịnh Y về việc xin ly hôn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Trịnh Y được ly hôn chị Nguyễn Thị P.

2. Về con chung: Giao cháu Trịnh Hồng A, sinh ngày 21/4/2016; cháu Trịnh Thành N, sinh ngày 13/8/2019; và cháu Trịnh L, sinh ngày 31/7/2020 cho anh Trịnh Y trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Nguyễn Thị P không phải cấp dưỡng nuôi con chung (do anh Y không yêu cầu); chị P có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Anh Trịnh Y và chị Nguyễn Thị P có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về vay nợ chung: Anh Trịnh Y và chị Nguyễn Thị P không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí: Anh Trịnh Y phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000272 ngày 07/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Anh Y đã nộp đủ án phí.

Chị Nguyễn Thị P không phải chịu án phí của vụ án.

6. Về quyền kháng cáo: Anh Trịnh Y và chị Nguyễn Thị P có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ