vanban.org

Bản án 113/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Đặng Ngọc D ly hôn với anh Trần Hòa H.

Về nuôi con chung: Giao hai con là cháu Trần Thị Mỹ Hà, sinh ngày 08/9/2007 và cháu Trần Hòa Tiên, sinh ngày 15/3/2013 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh H được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị D cù… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Đặng Ngọc D ly hôn với anh Trần Hòa H.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 30-8-2022
V/v tranh chấp xin ly hôn và
giải quyết việc nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa

2. Bà Hà Thị Kim Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Minh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện H.

Ngày 30 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 310/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2022 về tranh chấp xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Ngọc D, sinh năm 1988; địa chỉ: Ấp M, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Hòa H, sinh năm 1980; địa chỉ: Ấp M, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/5/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đặng Ngọc D trình bày: Vào năm 2007, chị và anh Trần Hòa H tìm hiểu và yêu thương nhau, được hai bên gia đình thống nhất cho tổ chức lễ cưới, sau đó đến ngày 03/12/2013, anh chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống vui vẻ, hạnh phúc và anh chị sinh được hai người con là cháu Trần Thị Mỹ Hà, sinh ngày 08/9/2007 và cháu Trần Hòa Tiên, sinh ngày 15/3/2013. Tuy nhiên, từ đầu năm 2018 giữa chị và anh H thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do anh H hay ghen tuông vô cớ, nhiều lần xúc phạm danh dự chị và gia đình chị, từ đó anh chị sống ly thân cho đến nay. Chị nhận thấy vợ, chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Hòa H. Về con chung, chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con cho đến khi các cháu trưởng thành và chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung, quá trình chung sống anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Hòa H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến trình bày tại Tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho chị D, anh H, nhưng chị D, anh H không có mặt tại Tòa, riêng chị D có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2, Điều 227 và khoản 3, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh H chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang ngày 03/12/2013, dó đó hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của chị D, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình chung sống vợ chồng, giữa chị D và anh H thiếu sự quan tâm, thương yêu và chăm sóc lẫn nhau, khiến cho cuộc sống hôn nhân rạn nứt, xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau, chị D không còn tình cảm với anh H, xét thấy vợ chồng anh chị chung sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ quy định tại khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị D về việc cho chị ly hôn với anh H.

Về nuôi con chung: Chị D tự nguyện nhận nuôi hai con và các con có nguyện vọng muốn ở với chị, do đó Hội đồng xét xử xét nên giao hai cháu Trần Thị Mỹ Hà, sinh ngày 08/9/2007 và cháu Trần Hòa Tiên, sinh ngày 15/3/2013 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 1 và khoản 2, Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Anh H được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị D cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chị D yêu cầu ly hôn nên căn cứ theo quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị D phải có nghĩa vụ nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 51, khoản 1, Điều 56; khoản 1 và khoản 2, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Đặng Ngọc D ly hôn với anh Trần Hòa H.

2. Về nuôi con chung: Giao hai con là cháu Trần Thị Mỹ Hà, sinh ngày 08/9/2007 và cháu Trần Hòa Tiên, sinh ngày 15/3/2013 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh H được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị D cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị D không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng chị D đã tạm nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0008052 ngày 04/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sựhuyện H, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị D đã nộp xong.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ