vanban.org

Bản án 113/2022/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 22/02/2022 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/02/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Công Ng.

Bác yêu cầu khởi ki n của ông Nguyễn Công Ng về vi c “Khi u ki n quy t đ nh xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý nhà nước về lĩnh vực đất đai ” đối với yêu cầu hủy Quy t đ nh số 49/QĐ-XPVPHC ngày 12/01/2021 của Chủ t ch UBND huy n Lạc D. Về án phí: Miễn án toàn bộ án phí hành chính sơ thẩm và án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Ông Nguyễn Công Ng"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Công Ng.
  • Căn cứ chính? Luật Đất đai; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 91/2019/NĐ-CP Về xử phạt vi phạm hành chính tro…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2022/HC-PT
Ngày 22 tháng 02 năm 2022.
V/v: “Khi u ki n quy t đ nh giải quy t
khi u nại trong lĩnh vực nhà nước về đất
đai”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Huynh

Các Thẩm phán:

Bà Phạm Th Duyên

Ông Lê Thành Long

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tâm - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Đoạn - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 515/2021/TLPT-HC ngày 29 tháng 10 năm 2021 về vi c “Khi u ki n quy t đ nh giải quy t khi u nại trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 41/2021/HC-ST ngày 08 tháng 9 năm 2021 của Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng b kháng cáo;

Theo Quy t đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 94/2022/QĐPT-HC ngày 28 tháng 01năm 2022 giữa các đương sự:

- Người khởi kiện:

Ông Nguyễn Công Ng, sinh năm 1953 (có mặt).

Đ a chỉ: Số 01 đường Thống N, tổ dân phố Lang B, th trấn Lạc D, tỉnh Lâm Đồng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Luật sư Trần Đình L – Văn phòng Luật sư Tu T thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Lâm Đồng (có mặt).

- Người bị kiện:

Chủ t ch Ủy ban nhân dân huy n Lạc D (có đơn xin vắng mặt).

Đ a chỉ: Số 36, đường B, tổ dân phố Đăng L, th trấn Lạc D, huy n Lạc D, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Chí Quang M – Chức vụ: Phó Chủ t ch (có đơn xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Th Thanh Th, sinh năm 1982 (có mặt).

Đ a chỉ: Số 01 đường Thống N, tổ dân phố Lang B, th trấn Lạc D, huy n Lạc D, tỉnh Lâm Đồng.

- Người kháng cáo: Người khởi ki n là ông Nguyễn Công Ng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người khởi kiện – ông Nguyễn Công Ng trình bày:

Năm 2015, ông Ng mua di n tích đất 3.747m2, thuộc TDP Đăng L, th trấn Lạc D, huy n Lạc D, tỉnh Lâm Đồng của ông B từ những năm 2015; di n tích đất này do ông B khai phá và trồng cây cà phê từ những năm 2005. Lúc mua ông B chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Di n tích đất nói trên là thuộc quyền sử dụng của con gái ông là bà Nguyễn Th Thanh Th chứ không phải là người sử dụng đất. Điều này được thể hi n rõ qua giấy ủy quyền lập ngày 1-7-2020 tại văn phòng công chứng Đỗ Th Bích N - huy n Lạc D, tỉnh Lâm Đồng. Tuy nhiên, đ n ngày 12 tháng 01 năm 2021, Chủ t ch UBND huy n Lạc D ban hành Quy t đ nh số 49/QĐ-XPVPHC; v/v xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn, chi m đất chưa sử dụng tại khu vực đô th với di n tích 3.747m2 tại TDP Đăng L, TT Lạc D. Do vậy, vi c ban hành Quy t đ nh xử phạt vi phạm hành chính là không đúng quy đ nh, xâm hại đ n quyền lợi hợp pháp của ông. Nay ông làm đơn đề ngh Tòa án hủy Quy t đ nh số 49/QĐ-XPVPHC ngày 12/01/2021 của Chủ t ch UBND huy n Lạc D

Người bị kiện – Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Di Linh và ông Lê Chí Quang M đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Di Linh trình bày:

Từ năm 2000 đ n ngày 03-6-2004, do Khu bảo tồn thiên nhiên Biđoup - Núi B quản lý theo Quy t đ nh số 2481/QĐ-UBND ngày 08-8-2000 của UBND tỉnh Lâm Đồng.

Từ ngày 04-6-2004 đ n ngày 17-6-2007, do Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa N quản lý theo Quy t đ nh số 1818/QĐ-UBND ngày 04-6-2004 của UBND tỉnh về vi c thu hồi di n tích đất lâm nghi p do Khu bảo tồn thiên nhiên Bidoup - Núi B quản lý và giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa N quản lý.

Từ ngày 18-6-2007 đ n ngày 23-9-2012, do Công ty TNHH Quảng T thuê để quản lý, bảo v rừng theo Quy t đ nh số 1575/QĐ-UBND ngày 18-6-2007; Quy t đ nh số 3497/QĐ-UBND ngày 28-12-2007 của UBND tỉnh Lâm Đồng.

Từ ngày 24-9-2012 đ n ngày 22-7-2019, do Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa N quản lý theo Quy t đ nh số 2007/QĐ-UBND ngày 24-9-2012 và Văn bản số 5493/UBND-ĐC ngày 08-10-2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh về vi c thu hồi đất đã cho Công ty TNHH Quảng T thuê và giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa N quản lý.

Từ ngày 23-7-2019 cho đ n nay, do UBND huy n Lạc D quản lý theo Quy t đ nh số 1486/QĐ-UBND ngày 10-7-2019 của UBND tỉnh và biên bản bàn giao ranh giới, di n tích đưa ra ngoài lâm nghi p cho UBND huy n Lạc D quản lý ngày 23-7-2019 của Sở nông nghi p và phát triển nông thôn

Ngày 24-10-2019, UBND huy n ban hành văn bản số 1637/UBND-VP trong đó có bàn giao di n tích đất trống ngoài quy hoạch 03 loại rừng (theo quy t đ nh số 2016/QĐ-UBND ngày 09-10-2018 của UBND tỉnh) cho UBND th trấn Lạc D quản lý theo quy đ nh.

Di n tích đất này các cơ quan chức năng đã giải tỏa 03 lần vào các năm 2013; 2017 và 2020 do b lấn chi m, chi m cụ thê:

+ Lần 1: Trạm quản lý bảo v rừng Đ thuộc Ban Quản lý rừng Phòng hộ đầu nguồn Đa N quản lý ti n hành giải tỏa và lập biên bản giải tỏa số 01/BB-GT ngày 24-8-2013.

+ Lần 2: Trạm quản lý bảo v rừng Đ thuộc Ban Quản lý rừng Phòng hộ đầu nguồn Đa N quản lý ti n hành giải tỏa và lập biên bản giải tỏa sô 08/BB-GT ngày 24-8-2017

+ Lần 3: Đội Thường trực thực hi n Chỉ th 12/2003/CT-TTg (Đội 12) huy n Lạc D về vi c tuần tra, kiểm tra, truy quét vi c thực hi n Chỉ th 12/2003/CT-TTg năm 2020 trên đ a bàn huy n Lạc D đã phối hợp với Ủy ban nhân dân th trấn Lạc D, Công an huy n Lạc D, Phòng Tài nguyên và Môi trường huy n Lạc D đã ti n hành giải tỏa nhổ bỏ toàn bộ số cây trồng trên v trí đất vi phạm, giải tỏa hàng rào kẽm gai, nhổ trụ bê tông, cọc sắt bao chi m trên đất và lập biên bản ngày 15-6-2020. Tại thời điểm giải tỏa không xác đ nh được đối tượng vi phạm và không có hộ dân nào khi u nại, tố cáo ki n ngh phản ánh vi c giải tỏa.

Vi c UBND huy n Lạc D ban hành quy t đ nh xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy đ nh, đúng thẩm quyền.

Với yêu cầu khởi ki n của ông Ng, đề ngh Tòa án giải quy t theo quy đ nh của pháp luật

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị Thanh Th trình bày:

Năm 2015, bà Th nhận sang nhượng một mảnh vườn cà phê di n tích đất khoảng 4.000m2, thuộc TDP Đăng L, th trấn Lạc D, huy n Lạc D, tỉnh Lâm Đồng của ông B; di n tích đất này do ông B khai phá và trồng cây cà phê từ những năm 2005. Sau khi nhận sang nhượng, bà Th sử dụng và canh tác cho đ n nay.

Ngày 15-6-2020, Chủ t ch UBND huy n Lạc D cho cán bộ đ n cưỡng ch , giải tỏa, chặt phá toàn bộ cây trồng của bà, gây thi t hại khoảng 100.000.000đ. Trong khi đó, bà không nhận được bất kỳ thông báo hay quy t đ nh hành chính nào. Bà Th đã ủy quyền cho bố bà là ông Ng để thực hi n quyền khi u nại của mình. Tuy nhiên, không được xem xét mà Chủ t ch UBND huy n Lạc D lại ban hành quy t đ nh số 49/QĐ-XPVPHC ngày 12/01/2021 v/v xử phạt vi phạm hành chính đối với bố bà do có hành vi lấn chi m đất chưa sử dụng. Vi c ban hành quy t đ nh này là không đúng đối tượng. Do vậy, đề ngh Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi ki n của ông Ng, hủy quy t đ nh số 49/QĐ-XPVPHC ngày 12/01/2021 nói trên.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 41/2021/HC-ST ngày 08/9/2021, Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng quyết định:

- Căn cứ Điều 30; Điều 32; Điều 116; điểm h, Điều 143; điểm a, khoản 2, Điều 193 và Điều 348 của Luật Tố tụng Hành chính;

- Căn cứ Luật đất đai 2013, Nghị định 91/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai ngày 19-11-2019, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Công Ng về việc “Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý nhà nước về lĩnh vực đất đai” đối với yêu cầu:

- Hủy Quyết định số 49/QĐ-XPVPHC ngày 12/01/2021 của Chủ tịch UBND huyện Lạc D.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quy t đ nh về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy đ nh của pháp luật.

Ngày 16/9/2021, người khởi ki n là ông Nguyễn Công Ng kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông Ng, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi ki n của người khởi ki n.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Nguyễn Công Ng trình bày: Ông chỉ là người được con gái ông là bà Nguyễn Th Thanh Th ủy quyền để trực ti p làm tại đất thôi, ông không có hành vi lấn chi m đất. Vi c Chủ t ch UBND huy n Lạc D ban hành Quy t đ nh số 49/QĐ-XPVPHC ngày 12/01/2021 xử phạt ông Ng là không đúng đối tượng. Ông Ng thừa nhận khi thực hi n vi c canh tác trên đất do bà Th thuê người làm còn ông Ng trực ti p trông coi người làm. Ông Ng cho rằng vi c ông Ng thừa nhận là đất của ông Ng và là người trực ti p canh tác trên đất được ghi trong các biên bản của Ủy ban lập trước đây là do cán bộ tự ghi, ông Ng ký khi không đọc kỹ biên bản. Ông Ng đề ngh Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm. Hủy Quy t đ nh số 49/QĐ-XPVPHC ngày 12/01/2021 của Chủ t ch UBND huy n Lạc D.

Bà Nguyễn Thị Thanh Th trình bày: Bà nhận chuyển nhượng đất từ ông B. Vi c chuyển nhượng bằng giấy tay, không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Khi bà Th mua đất của ông B đã trồng cây trên đất rồi. Do trên đất có trồng cây cà phê nên nhờ cha bà Th là ông Ng trông coi. Vi c Chủ t ch UBND huy n Lạc D ban hành Quy t đ nh số 49/QĐ-XPVPHC ngày 12/01/2021 xử phạt hành vi lấn chi m của bà là không đúng. Bà đề ngh Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quy t đ nh số 49/QĐ-XPVPHC ngày 12/01/2021 của Chủ t ch UBND huy n Lạc D.

Luật sư Trần Đình L trình bày: Về hình thức, thẩm quyền thì Quy t đ nh số 49/QĐ-XPVPHC ngày 12/01/2021 của Chủ t ch UBND huy n Lạc D đúng theo quy đ nh của pháp luật. Về nội dung thì trong quy t đ nh này cho rằng ông Ng là người có hành vi lấn chi m đất chưa sử dụng tại khu vực đô th đối với di n tích đất 3.747m2. Di n tích này đã được Tòa án cấp sơ thẩm làm rõ chính là di n tích đất mà bà Th đã mua của ông B. Trong hồ sơ cũng đã thể hi n vi c mua bán giữa ông B với bà Th bằng giấy tay và được xác lập vào năm 2015. Tuy vi c mua bán này không thực hi n đúng theo các quy đ nh của pháp luật đất đai về vi c chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng văn bản này đã xác nhận rõ người bán là ông B, người nhận sang nhượng là bà Nguyễn Th Thanh Th chứ không phải là người nào khác. Ngoài ra, sau khi xảy ra sự vi c vào ngày 15/6/2020 thì ông Ng là người vi t đơn khi u nại cho bà Th. Đây là do nhận thức pháp luật của công dân. Sau đó, tại Biên bản làm vi c của UBND th trấn Lạc D cụ thể là Biên bản đối thoại ngày 25/6/2020 do Phó Chủ t ch UBND th trấn Lạc D là ông Nguyễn Phú V chủ trì đã hướng dẫn ông Ng phải có giấy ủy quyền của bà Th về vi c thực hi n vi c khi u nại. Vi c hướng dẫn của ông V nói trên là hoàn toàn phù hợp với Điều 12 của Luật Khi u nại về vi c ủy quyền khi u nại và cũng do hướng dẫn này mà dẫn đ n vi c ông Ng trong quá trình giải quy t vụ vi c có liên quan ông Ng ngộ nhận cho rằng đã ủy quyền là đất của mình. Mặt khác, qua các biên bản làm vi c mà mà bản án sơ thẩm đã nhận đ nh cho rằng ông Ng trong quá trình làm vi c thừa nhận là đất của mình thì các biên bản này đều là do cán bộ cấp dưới của ông V lập. Do đó, cần phải xem xét rằng các biên bản do cán bộ cấp dưới lập trái với quy đ nh của pháp luật thì các văn bản đó không có giá tr pháp lý. Căn cứ vào Luật Đất đai thì bà Th là người sử dụng đất chứ không phải ông Ng. Theo quy đ nh của Luật Công chứng thì n u văn bản công chứng không b Tòa án có thẩm quyền bác bỏ thì văn bản này có hi u lực pháp luật từ khi nó được công chứng và theo quy đ nh tại Điều 79 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì văn bản này là những tài li u chứng cứ không cần phải chứng minh. Ông Ng không phải là người sử dụng đất mà ban hành quy t đ nh xử phạt ông Ng với hành vi lấn chi m đất là không đúng với quy đ nh của pháp luật và không đúng với thực t . Giả sử ông Ng là người mua đất thì theo quy đ nh tại Điều 4 của Ngh đ nh số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ thì thời điểm để tính thời hi u xử phạt vi phạm hành chính đối với người lấn chi m đất thì rõ ràng ở đây ông B là người lấn chi m chứ không phải ông Ng và hành vi lấn chi m kể từ khi chuyển nhượng đất, do đó xử lý ông Ng có hành vi lấn chi m của ông B này được chấm dứt kể từ khi chuyển nhượng đất cho người khác. Nội dung nữa của Quy t đ nh số 49 là buộc ông Ng nộp lại số lợi bất chính có được do thực hi n hành vi vi phạm là 5.034.736 đồng. Trong quá trình giải quy t ở Tòa án cấp sơ thẩm người b ki n cũng không chứng minh được căn cứ vào đâu để có số tiền này. Do đó, trong suốt quá trình từ khi nhận sang nhượng từ ông B cho đ n khi Chủ t ch UBND huy n Lạc D ban hành Quy t đ nh số 49/QĐ-XPVPHC ngày 12/01/2021 này thì bản thân bà Th chưa hề có thu lợi gì. Đề ngh Hội đồng xét xử xem xét nội dung này không có căn cứ pháp luật. Từ những phân tích trên đề ngh Hội đồng xét xử sửa toàn bộ bản án sơ thẩm. Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của người khởi ki n là ông Nguyễn Công Ng, hủy toàn bộ Quy t đ nh số 49/QĐ-XPVPHC ngày 12/01/2021 của Chủ t ch UBND huy n Lạc D.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

- Vi c chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy đ nh của Luật Tố tụng hành chính.

- Về nội dung: Theo Giấy biên nhận tiền sang nhượng đất trồng cây cà phê ngày 10/01/2015 thể hi n người chuyển nhượng là ông B, người nhận chuyển nhượng là bà Nguyễn Th Thanh Th, Phan Th D (mẹ bà Th), ông Ng là người làm chứng nhưng giấy chuyển nhượng này không được xác nhận hay công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền theo quy đ nh và ngày tháng chứng minh nhân dân của ông B, bà Th là năm 2016, 2018 tức sau năm chuyển nhượng là không hợp lý.

Tại Biên bản làm vi c với ông Bngày 03/7/2020, ông B trình bày có chuyển nhượng lô đất tại tiểu khu 145 cho ông Ng vào năm 2015.

Tại thời điểm lập biên bản ngày 15/12/2020, ngày 31/12/2020 ông Ng nêu ý như sau: “Năm 2015, gia đình ông mua lại của ông B tại thời điểm mua trên đất có cây cà phê rải rác khoảng 8 năm tuổi diện tích có cây cà phê khoảng 2.000m2, số còn lại trồng cây bí và bắp. Tháng 11/2019 gia đình ông có tác động trồng mít, bưởi đào tam hoa, đến tháng 2/2020 trồng 200 cây bơ 034, 20 cây xoài thái ghép, 10 cây mít đỏ, 10 cây vú sữa, tháng 5/2020 trồng thêm 40 cây mai anh đào để làm hàng rào”.

Theo Biên bản vi phạm hành chính số 05/BB-VPHC ngày 06/01/2021 của UBND th trấn Lạc D, ông Ng thừa nhận là người lấn chi m đất chưa sử dụng tại khu vực đô th để sản xuất nông nghi p, thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính là đất trồng cây lâu năm 3.747m2. Thời điểm lấn chi m đất từ tháng 11/2019. Tại phiên tòa, ông Ng thừa nhận ông là người tác động trên đất và người chỉ dẫn v trí đất để xác đ nh tọa độ thì đúng di n tích giải tỏa.

Theo Quy t đ nh số 2481/QĐ-UB ngày 08/8/2000 của UBND tỉnh Lâm Đồng, thì di n tích 3.747m2có v trí tọa độ trung tâm X 573815, Y1327971 tại tiểu khu 145, TDP Đăng L, th trấn Lạc D nằm trong phần đất Khu bảo tồn thiên nhiên Bidoup – Núi B. Đ n ngày 04/6/2004, UBND tỉnh ban hành Quy t đ nh số 1818/QĐ-UBND thu hồi di n tích đất lâm nghi p do Khu bảo tồn thiên nhiên Bidoup – Núi B và Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa N quản lý.

Sau đó, UBND tỉnh giao cho Công ty TNHH Quảng T thuê để quản lý, bảo v rừng từ ngày 18/8/2007 đ n 23/9/2012. Từ ngày 24/9/2012 đ n ngày 22/7/2019 thì giao về Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa N quản lý theo Quy t đ nh số 2007/QĐ-UBND ngày 24/9/2012.

Từ ngày 23/7/2019 cho đ n nay, UBND huy n Lạc D quản lý theo Quy t đ nh số 1486/QĐ-UBND ngày 10/7/2019 của UBND tỉnh Lâm Đồng và Biên bản bàn giao ranh giới, di n tích đưa ra ngoài lâm nghi p của Sở Nông nghi p và Phát triển Nông thôn.

Như vậy, phần đất của ông B khai phá năm 2005 nằm trong phần di n tích đất lâm nghi p do Bản quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa N quản lý từ năm 2004. Năm 2019, di n tích đất này được bàn giao cho UBND huy n Lạc D. Tại các Biên bản giải tỏa di n tích đất số 01/BB-GT ngày 24/8/2013, số 08/BB-GT ngày 24/8/2017 và biên bản không số ngày 15/6/2020 đều xác đ nh v trí di n tích 3.747m2 thuộc tiểu khu 145, TDP Đăng L, th trấn Lạc D, huy n Lạc D. Cả 03 biên bản giải tỏa không xác đ nh được đối tượng vi phạm và không có hộ dân nào khi u nại, tố cáo ki n ngh , phản ánh. Vi c ông B khai phá và chuyển nhượng là trái pháp luật. Tại thời điểm kiểm tra, ông Ng là người trực ti p tác động đ n phần đất 3.747m2. Do vậy, Chủ t ch UBND huy n Lạc D ban hành Quy t đ nh xử phạt vi phạm hành chính số 49/QĐ-XPVPHC ngày 12/01/2021 đối với ông Ng hình thức phạt chính phạt tiền 20.000.000 đồng, phạt bổ sung không, bi n pháp khắc phục hậu quả là buộc ông Ng phải khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm và trả lại phần di n tích đất đã lấn chi m 3.747m2; nộp lại số tiền lợi bất hợp pháp có được do thực hi n hành vi vi phạm với số tiền 5.034.736 đồng là có cơ sở.

Từ những phân tích trên, đề ngh Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Công Ng. Giữ nguyên quy t đ nh của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài li u, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa, k t quả tranh tụng tại phiên tòa, ý ki n của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Về tố tụng:

Đơn kháng cáo, nghĩa vụ đóng tạm ứng án phí, đương sự đã thực hi n đúng theo quy đ nh của pháp luật.

Về thời hi u khởi ki n: Tòa án cấp sơ thẩm xác đ nh ông Nguyễn Công Ng khởi ki n Quy t đ nh số 49/QĐ-XPVPHC ngày 12/01/2021 của Chủ t ch UBND huy n Lạc D còn trong thời hi u khởi ki n là đúng quy đ nh của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm có một số đương sự vắng mặt nhưng các đương sự này đã có đơn đề ngh xét xử vắng mặt hoặc đã ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn ti n hành xét xử vụ án.

Về nội dung:

Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành Quy t đ nh xử phạt vi phạm hành chính số 49/QĐ-XPVPHC ngày 12/01/2021 của Chủ t ch UBND huy n Lạc D:

Di n tích đất ông Ng lấn chi m đã b giải tỏa ba lần vào ngày 24-8-2013; 24-8-2017 và ngày 15-6-2020, đội thường trực thực hi n chỉ th 12 của UBND huy n Lạc D thực hi n vi c giải tỏa cây trồng hàng rào bao chi m trên di n tích đất lấn chi m tại thời điểm giải tỏa trên không xác đ nh được đối tượng vi phạm. Sau khi giải tỏa ông Ng có đơn khi u nại về vi c giải tỏa và cho rằng ông không phải là người thực hi n hành vi vi phạm.

Quá trình xác minh đối tượng vi phạm thì ông Ng thừa nhận ông có hành vi tác động trồng cây trên di n tích đất b giải tỏa nhưng không phải do lấn chi m mà do nhận chuyển nhượng của ông B. Quá trình làm vi c với ông Ng có lập biên bản làm vi c vào ngày 15-12-2020 và ngày 31-12-2020.

Ngày 06-01-2021, UBND th trấn Lạc D lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai số 05/BB-VPHC đối với ông Nguyễn Công Ng với hành vi lấn chi m đất chưa sử dụng tại khu vực đô th để sản xuất nông nghi p, thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính là đất trồng cây lâu năm với di n tích 3.747m2, có điểm tọa độ trung tâm X 573815, Y1327971, tại tiểu khu 145, TDP Đăng L, th trấn Lạc D, huy n Lạc D, tỉnh Lâm Đồng. Xác đ nh thời gian lấn chi m tháng 11/2019.

Sau khi lập biên bản vi phạm hành chính, UBND th trấn Lạc D có Báo cáo số 08/BC-TNMT về vi c xử lý vi phạm lấn, chi m đất đối với ông Nguyễn Công Ng tại tiểu khu 145, tổ dân phố Đăng L và chuyển hồ sơ vi phạm về UBND huy n Lạc D. Trên cơ sở hồ sơ, tài li u của các cơ quan chuyển về và căn cứ các quy đ nh của pháp luật, ngày 12/01/2021 Chủ t ch UBND huy n Lạc D ban hành Quy t đ nh số 49/QĐ-XPVPHC về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông Nguyễn Công Ng với hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 20.000.000 đồng; Bi n pháp khắc phục hậu quả: buộc ông Nguyễn Công Ng khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm và trả lại di n tích đất đã lấn, chi m với di n tích 3.747m2 , nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hi n hành vi vi phạm với số tiền là 5.034.736đ.

Vi c lập biên bản vi phạm hành chính và ban hành Quy t đ nh số 49/QĐ-XPVPHC là đúng theo quy đ nh tại khoản 2 Điều 38, Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính; Ngh đ nh số 81/2013/NĐ-CP ngày 19-7-2013 của Chính phủ quy đ nh chi ti t một số điều và bi n pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 38, khoản 2 Điều 40 Ngh đ nh 91/2019/NĐ-CP ngày 19-11-2019 của Chính phủ quy đ nh về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

V trí đất liên quan đ n nội dung khi u nại của ông Nguyễn Công Ng được xác đ nh bởi điểm tọa độ trung tâm theo h VN 2000: X = 573815, Y = 1327971; di n tích 3.747m2, tiểu khu 145, tổ dân phố Đăng L, th trấn Lạc D. Theo Quy t đ nh số 2481/QĐ-UB ngày 08-8-2000 của UBND tỉnh thì di n tích trên nằm trong phần di n tích do Khu Bảo tồn thiên nhiên Biđoup – Núi B. Đ n ngày 04-6-2004, UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành Quy t đ nh số 1818/QĐ-UBND về vi c thu hồi di n tích đất lâm nghi p do Khu bảo tồn thiên nhiên Biđoup – Núi B quản lý và giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa N quản lý.

Sau đó, UBND tỉnh Lâm Đồng giao cho Công ty TNHH Quảng T thuê để quản lý, bảo v rừng từ ngày 18-6-2007 đ n ngày 23-9-2012. Từ ngày 24-9-2012 đ n ngày 22-7-2019 thì lại giao về Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa N quản lý theo quy t đ nh 2007/QĐ-UBND ngày 24-9-2012.

Từ ngày 23-7-2019 cho đ n nay, UBND huy n Lạc D quản lý theo Quy t đ nh số 1486/QĐ-UBND ngày 10-7-2019 của UBND tỉnh Lâm Đồng và biên bản bàn giao ranh giới, di n tích đưa ra ngoài lâm nghi p của Sở Nông nghi p và Phát triển Nông thôn.

Ông Nguyễn Công Ng cho rằng là di n tích đất nhận chuyển nhượng từ ông B năm 2015, nguồn gốc là do ông B tự khai phá năm 2005. Theo lời khai của ông B tại Biên bản đối thoại với người ki n ngh ngày 03-7-2020 do UBND th trấn Lạc D thể hi n: “Lô đất tại tiểu khu 145, tôi (B) đã viết giấy sang tay cho ông Nguyễn Công Ng năm 2015 là đúng sự thật, lô đất này do tôi khai phá năm 2005, diện tích khoảng 3,6 sào. Khi đó cà phê, su su và bầu, do không chăm sóc cây cà phê cằn cỗi” (bút lục 24). Tại Biên bản vi phạm hành chính ngày 06/01/2021 do UBND th trấn Lạc D lập, ông Ng cũng thừa nhận có nhận chuyển nhượng khu đất này của ông B để làm vườn (Bút lục số 08).

Tuy nhiên, tại thời điểm năm 2005 thì phần di n tích đất mà ông B cho rằng khai phá đã nằm trong phần di n tích đất lâm nghi p do Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa N quản lý theo Quy t đ nh số 1818/QĐ-UBND ngày 04-6-2004 (BL 79-80). Năm 2019, phần di n tích đất này được bàn giao UBND huy n Lạc D quản lý ngoài quy hoạch 03 loại rừng theo Quy t đ nh số 1486/QĐ-UBND ngày 10-7-2019. Biên bản giải tỏa lấn chi m ngày 15-6-2020 (BL 35-36), biên bản giải tỏa ngày 24-8-2013 (BL 30-32), biên bản giải tỏa ngày 24-8-2013 (BL27-29) đều xác đ nh v trí di n tích đất 3.747m2 thuộc tiểu khu 145, tổ dân phố Đăng L, th trấn Lạc D. Cả ba biên bản giải tỏa không xác đ nh được đối tượng vi phạm và không có hộ dân nào khi u nại, tố cáo ki n ngh , phản ánh.

Như vậy, nguồn gốc đất mà ông B chuyển nhượng là đất lâm nghi p. Ông B đã tự ý chi m đất rừng, khai phá trái phép và chuyển nhượng trái với quy đ nh của pháp luật.

Căn cứ vào Điều 2 Ngh đ nh 91/2019/NĐ-CP: “Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Nghị định này gồm các đối tượng dưới đây có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này xảy ra trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác...”.

Tại thời điểm lập biên bản làm vi c ngày 15-12-2020 (BL 98), biên bản làm vi c ngày 31-12-2020 (BL 99), ông Ng là người có hành vi tác động lên đất. Theo Điều 3 Ngh đ nh 91/2019/NĐ-CP thì hành vi lấn chi n đất được hiểu như sau:

“Điều 3.

1. Lấn đất là việc người sử dụng đất chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất sử dụng mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép hoặc không được người sử dụng hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho phép.

2. Chiếm đất là việc sử dụng đất thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Tự ý sử dụng đất mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép;

b) Tự ý sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác mà không được tổ chức, cá nhân đó cho phép;

c) Sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê đất đã hết thời hạn sử dụng mà không được Nhà nước gia hạn sử dụng (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng đất nông nghiệp);

d) Sử dụng đất trên thực địa mà chưa hoàn thành các thủ tục giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật.

…”

Tại phiên tòa phúc thẩm bà Th trình bày, thừa nhận chuyển nhượng khu đất di n tích đất 3.747m2, thuộc TDP Đăng L, th trấn Lạc D, huy n Lạc D, tỉnh Lâm Đồng của ông B và nộp 01 giấy ti p nhận hồ sơ và hẹn trả k t quả; 01 bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất; 01 phi u xác nhận k t quả đo đạc hi n trạng thửa đất. Tuy nhiên, ông B đã xác đ nh chỉ chuyển nhượng đất cho ông Ng, đồng thời 03 tài li u bà Th nộp đều là bản photo, không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền, không có công chứng, chứng thực. Hơn nữa, tại phiên tòa phúc thẩm ông Ng trình bày ông Ng kháng cáo bản án sơ thẩm với lý do Quy t đ nh số 49 xử phạt không đúng đối tượng vì khu đất di n tích 3.747m2, thuộc TDP Đăng L, th trấn Lạc D, huy n Lạc D, tỉnh Lâm Đồng này là của bà Th chứ không phải của ông Ng. Ông Ng thừa nhận khi thực hi n vi c canh tác trên đất do bà Th thuê người làm còn ông Ng trực ti p trông coi người làm. Ông Ng còn cho rằng vi c ông Ng thừa nhận là đất của ông Ng và là người trực ti p canh tác trên đất được ghi trong các biên bản của Ủy ban lập trước đây là do cán bộ tự ghi, ông Ng ký khi không đọc kỹ biên bản. Tuy nhiên, ông Ng và bà Th không đưa ra được chứng cứ có căn cứ chứng minh cho lời trình bày của mình. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận lời trình bày của bà Th cũng như lời trình bày của ông Ng.

Như vậy, vi c Chủ t ch UBND huy n Lạc D ban hành Quy t đ nh số 49/QĐ-XPVPHC ngày 12/01/2021 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông Nguyễn Công Ng là đúng theo quy đ nh tại điểm c khoản 1 Điều 14 Ngh đ nh số 91/2019/NĐ-CP ngày 19-11-2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi ki n của ông Ng là có cơ sở. Do đó Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Ng, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí hành chính phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của ông Ng không được chấp nhận nên ông Ng phải ch u án phí hành chính phúc thẩm. Tuy nhiên, ông Ng là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;

Căn cứ Luật Đất đai 2013, Ngh đ nh 91/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai ngày 19-11-2019, Ngh quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đ nh về án phí, l phí Tòa án.

Căn cứ Ngh quy t 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án;

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Công Ng.Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số 41/2021/HC-ST ngày 08 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

2. Bác yêu cầu khởi ki n của ông Nguyễn Công Ng về vi c “Khi u ki n quy t đ nh xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý nhà nước về lĩnh vực đất đai ” đối với yêu cầu hủy Quy t đ nh số 49/QĐ-XPVPHC ngày 12/01/2021 của Chủ t ch UBND huy n Lạc D.

3. Về án phí: Miễn án toàn bộ án phí hành chính sơ thẩm và án phí hành chính phúc thẩm cho ông Nguyễn Công Ng.

4. Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ