- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng d n sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 113/2022 /DS-PT Ngày: 23-12-2022 “V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành
Các Thẩm phán:
Ông Ngô Đê
Ông Nguyễn Văn Mến
- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà - Thư ký T a n nh n d n t nh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Hương Thủy - Kiểm s t viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở T a n nh n d n t nh Trà Vinh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ n thụ lý số: 149/2022/TLPT-DS ngày 04 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành n”. Do bản n d n sự sơ thẩm số 37/2022/DS-ST, ngày 15 tháng 7 năm 2022 của T a n nh n d n thành phố T bị kh ng c o.
Theo Quyết định đưa vụ n ra xét xử phúc thẩm số: 22/2022/QĐPT-DS ngày 05 tháng 12 năm 2022 giữa c c đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hoài T, sinh năm 1962.
Địa ch : Số A Đường L, Khóm X, Phường K, thành phố T, t nh Trà Vinh.
Người đại diện hợp ph p cho bà Nguyễn Thị Hoài T: Ông Nguyễn Tiến L, sinh năm 1956; Địa ch : Số M Đường P, Khóm O, Phường H, thành phố T, t nh Trà Vinh, theo văn bản ủy quyền đề ngày 19/3/2021. (có mặt)
- Bị đơn:
1/ Bà Trương Thị Ngọc H, sinh năm 1982. (có mặt)
2/ Ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1977.
Cùng địa ch : Số Q Đường L, Khóm X, Phường K, thành phố T, t nh Trà Vinh.
Địa ch mới: Số E S, Phường A, thành phố B, t nh Bến Tre.
Người đại diện hợp ph p cho ông Nguyễn Tấn Đ là bà Trương Thị Ngọc H. Ông Đ ủy quyền cho bà Trương Thị Ngọc H tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền đề ngày 15/12/2021.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Trương Hoàng C, sinh năm 1979 (có yêu cầu độc lập)
2/ Bà Đặng Hiền U, sinh năm 1977 (có yêu cầu độc lập)
Cùng địa ch : Số G Đường H, Khóm X, Phường K, thành phố T, t nh Trà Vinh.
Người đại diện hợp ph p cho ông Trương Hoàng C và bà Đặng Hiền U: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1975; Địa ch : Số D, Đường P, Khóm O, Phường H, thành phố T, theo văn bản ủy quyền đề ngày 25/5/2021 (có mặt).
3/ Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố T.
Người đại diện hợp ph p cho Chi cục Thi hành n D n sự thành phố T:
Ông Đặng Văn Ư, Chi cục trưởng Chi cục Thi hành n d n sự thành phố T. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa ch : Khóm F, Phường K, thành phố T, t nh Trà Vinh.
4/ Bà Thái Thị M, sinh năm 1954 (có mặt)
Địa ch : Khóm C, Phường H, thành phố T, t nh Trà Vinh.
5/ Ông Lê Phước Th, sinh năm 1958 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa ch : Số A Đường L, Khóm X, Phường K, thành phố T, t nh Trà Vinh.
Người kh ng c o: Ông Trương Hoàng C, bà Đặng Hiền U là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ n.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/3/2021 và lời khai của ông Nguyễn Tiến L là người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 23/9/2020 bà Nguyễn Thị Hoài T với ông Nguyễn Tấn Đ và bà Trương Thị Ngọc H có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 93, tờ bản đồ số 21, diện tích 133m2, trên đất có x y dựng căn nhà (01 tầng với diện tích x y dựng là 133m2), tọa lạc tại số V, Đường L, Khóm X, Phường K, thành phố T với gi 2.400.000.000 đồng, được Ph ng Công chứng số 1 t nh Trà Vinh công chứng. Nhưng gi ghi trong hợp đồng chuyển nhượng là 1.500.000.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng, bà T đã giao tiền cho ông Đ, bà H đầy đủ và ông Đ, bà H đã bàn giao nhà cho bà T quản lý sử dụng cho đến nay. Bà T tiếp nhận nhà và đất có sửa chữa phần hàng rào, x y dựng bức tường bên phải và lót s n phía trước. C n kết cấu căn nhà không có sửa chữa. Bà T có đến Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục sang tên theo quy định và đã tiếp nhận hồ sơ nhưng sau đó lại thông b o là không đăng ký biến động đất đai được vì do có tranh chấp.
Ngày 11/3/2021 bà T có nhận được thông b o số 146 ngày 11/3/2021 của Chi cục thi hành n d n sự thành phố T thông báo cho bà T biết là đất tại thửa số 93, tờ bản đồ số 21, diện tích 133m2, trên đất có x y dựng căn nhà (01 tầng với diện tích x y dựng là 133m2), tọa lạc tại số V, Đường L, Khóm X, Phường K, thành phố T mà bà T đã nhận chuyển nhượng từ ông Đ, bà H thì vào ngày 09/3/2021 ông Đ, bà H đã tự nguyện cho Chi cục thi hành n d n sự thành phố T cưỡng chế, kê biên để thi hành theo Quyết định số 07 ngày 01/10/2020 và Quyết định số 115 ngày 28/10/2020 của Chi cục thi hành n d n sự thành phố T để thi hành án cho ông Trương Hoàng C và bà Đặng Hiền U.
Theo biên bản thẩm định tại chỗ và kết quả cung cấp thông tin của Văn ph ng đăng ký đất đai – Chi nhánh thành phố T, diện tích x y dựng của căn nhà là 118,38m2 nhỏ hơn so với diện tích được cấp sở hữu. Do đó, ông thống nhất với diện tích thực đo của căn nhà trên.
Nay ông là người đại diện hợp ph p cho bà Nguyễn Thị Hoài T, yêu cầu T a n tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 93, tờ bản đồ số 21, diện tích 133m2, trên đất có x y dựng căn nhà (01 tầng với diện tích x y dựng được cấp sở hữu là 133m2, thực đo là 118,38m2), tọa lạc tại số V, Đường L, Khóm X, Phường K, thành phố T vào ngày 23/9/2020 giữa bà Nguyễn Thị Hoài T với ông Nguyễn Tấn Đ, bà Trương Thị Ngọc H là hợp ph p. Công nhận thửa đất số 93, tờ bản đồ số 21, diện tích 133m2, trên đất có x y dựng căn nhà (01 tầng với diện tích x y dựng được cấp sở hữu là 133m2, thực đo là 118,38m2), tọa lạc tại số V, Đường L, Khóm X, Phường K, thành phố T thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Nguyễn Thị Hoài T.
Trường hợp T a n tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 23/9/2020 giữa bà Nguyễn Thị Hoài T với ông Nguyễn Tấn Đ, bà Trương Thị Ngọc H là vô hiệu thì ông không có yêu cầu T a n giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu trong vụ n này. Ông sẽ kiện vụ kiện kh c khi có yêu cầu.
Bị đơn bà Trương Thị Ngọc H trình bày và có yêu cầu như sau: Vào ngày 23/9/2020 vợ chồng bà có ký hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất tọa lạc tại số V, Đường L, Khóm X, Phường K, thành phố T cho bà Nguyễn Thị Hoài T với gi 2.400.000.000 đồng (theo ý của mẹ bà là bà Th i Thị M). Trong đó số tiền 330.000.000 đồng bà T giao trực tiếp cho bà Th i Thị M, phần c n lại 2.070.000.000 đồng bà T và người nhà cùng với bà T trực tiếp đến Ng n hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam – Chi nh nh Sài G n tại Thành phố Hồ Chí Minh để tất to n hợp đồng vay thế chấp căn nhà, lấy giấy sở hữu nhà giao cho bà T và đồng thời bàn giao căn nhà nêu trên.
Vào th ng 6/2019 vợ chồng bà có đứng ra vay tiền tại Ng n hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam – Chi nh nh Sài G n tại Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền 2.000.000.000 đồng dưới hình thức hợp đồng chuyển nhượng từ ông Trương Hoàng H và bà Th i Thị M (ba mẹ của bà H) qua cho vợ chồng bà để vợ chồng bà làm cơ sở thế chấp với ng n hàng. Nhưng trên thực tế căn nhà này vẫn c n toàn quyền của ông H, bà M quyết định. Thời hạn vay là 330 th ng (27,5 năm), hàng th ng vợ chồng bà phải trả gốc và lãi cho ng n hàng khoảng hai mươi mấy triệu đồng. Do làm ăn thất bại nên vợ chồng bà đã vi phạm hợp đồng không thể trả góp cho ng n hàng kể từ th ng 4/2020 đến th ng 9/2020. Phía ng n hàng xuống nhà yêu cầu vợ chồng bà trả nợ cho ng n hàng, nếu không trả sẽ ph t mãi tài sản. Do vậy, bà Th i Thị M (mẹ ruột bà H) quyết định b n toàn bộ căn nhà cho bà T và yêu cầu vợ chồng bà đứng ra ký hợp đồng chuyển nhượng vì hiện tại vợ chồng bà là người đứng sở hữu căn nhà nêu trên. Đ y không phải là tài sản của vợ chồng bà nên buộc vợ chồng bà phải thực hiện theo ý chí của bà M, vợ chồng bà không hề nghĩ đến việc tẩu t n tài sản để tr nh nghĩa vụ thi hành n của bản n buộc vợ chồng bà trả nợ cho ông Trương Hoàng C, bà Đặng Hiền U trước đó. Xét cho cùng thì nếu vợ chồng bà không chuyển nhượng nhà đất để trả tiền cho Ng n hàng thì khi ng n hàng kiện vợ chồng bà, nghĩa vụ ưu tiên thanh to n thi hành n cũng không đến ông C, bà U.
Do đó, trước yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hoài T, vợ chồng bà thống nhất tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 93, tờ bản đồ số 21, diện tích 133m2, trên đất có x y dựng căn nhà (01 tầng với diện tích x y dựng được cấp sở hữu là 133m2, thực đo là 118,38m2), tọa lạc tại số V, Đường L, Khóm X, Phường K, thành phố T được ký kết vào ngày 23/9/2020.
Ông Nguyễn Thanh H là đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trình bày và có yêu cầu như sau:
Theo bản n sơ thẩm số 09/2020/DS-ST ngày 01/7/2020 của T a n nh n dân thành phố T và bản n phúc thẩm số 94/2020/DS-PT ngày 15/9/2020 của T a n nh n d n t nh Trà Vinh đã có hiệu lực ph p luật ngày 15/9/2020 thì phía ông Đ và bà H phải có nghĩa vụ trả cho ông C và bà U số tiền 900.853.333 đồng.
Ngày 25/9/2020 ông C, bà U nộp đơn yêu cầu thi hành n tại Chi cục thi hành n d n sự thành phố T đồng thời cũng nộp đơn yêu cầu tạm ngưng giao dịch toàn bộ tài sản có liên quan đến ông Đ và bà H. Cùng ngày 25/9/2020 Chi cục thi hành n d n sự thành phố T ban hành công văn số 231/ĐN-CCTHADS với nội dung, đề nghị c c đơn vị có liên quan không chứng nhận c c giao dịch liên quan đến tất cả c c tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Tấn Đ và bà Trương Thị Ngọc H cho đến khi nào ông Đ bà H thực hiện xong nghĩa vụ. Ngày 01/10/2020 Chi cục thi hành n d n sự thành phố T ra quyết định thi hành n số 07/QĐ-CCTHADS buộc ông Đ, bà H có nghĩa vụ chi trả số tiền 900.853.333 đồng và lãi ph t sinh kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành n. Ngày 03/3/2021 Chi cục thi hành n d n sự thành phố T ra quyết định số 22/QĐ-CCTHADS về việc cưỡng chế, kê biên, xử lý tài sản của ông Đ và bà H đối với căn nhà tại địa ch V, Đường L, Khóm X, Phường K, thành phố T và thửa đất số 93, tờ bản đồ số 21, diện tích 133m2. Ngày 09/3/2021 Chi cục thi hành n d n sự thành phố T tiến hành kê biên, xử lý tài sản của ông Đ và bà H là căn nhà tại địa ch V, Đường L, Khóm X, Phường K, thành phố T và thửa đất số 93, tờ bản đồ số 21, diện tích 133m2.
Do trong qu trình kê biên và xử lý tài sản của ông Đ và bà H thì phía bà Nguyễn Thị Hoài T tranh chấp nên Chi cục Thi hành n d n sự thành phố T thông báo cho bà T khởi kiện để được giải quyết theo quy định của ph p luật. Trước yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hoài T, ông là người đại diện cho ông C và bà U có ý kiến như sau:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 93, tờ bản đồ số 21, diện tích 133m2, trên đất có x y dựng căn nhà (01 tầng với diện tích x y dựng là 133m2), tọa lạc tại số V, Đường L, Khóm X, Phường K, thành phố T được ký kết vào ngày 23/9/2020 giữa ông Nguyễn Tấn Đ, bà Trương Thị Ngọc H với bà Nguyễn Thị Hoài T là vô hiệu vì phía ông Đ, bà H không thực hiện nghĩa vụ chi trả số tiền 900.853.333 đồng cho ông C, bà U mà có hành vi chuyển nhượng cho bà T là hành vi tr i ph p luật. Đ y là hành vi tẩu t n tài sản nhằm trốn tr nh việc thực hiện nghĩa vụ với ông C và bà U. Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất nêu trên giữa bà T với ông C, bà H chưa có hiệu lực ph p luật theo quy định của Luật đất đai. Gi chuyển nhượng ghi trong hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn gi chuyển nhượng thực tế. Đ y là hành vi trốn thuế.
Do đó, đề nghị T a n b c yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoài T. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông C, bà U. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất nêu trên giữa phía bà T với ông Đ, bà H là vô hiệu.
Bà Thái Thị M là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Trong qu trình giải quyết vụ n, bà đã được T a n tống đạt c c văn bản tố tụng, bà có nhận c c văn bản của T a nhưng bà không đồng ý ký tên vào c c biên bản tống đạt và cũng không đồng ý cho T a n lấy lời khai của bà. Bà muốn được trình bày lời khai tại phiên t a. Căn nhà và đất mà vợ chồng bà Trương Thị Ngọc H và ông Nguyễn Tấn Đ chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Hoài T có nguồn gốc là của vợ chồng bà. Trước đ y, do con g i bà là Trương Thị Ngọc H gặp khó khăn trong việc làm ăn. Do vợ chồng bà đã lớn tuổi nên không thể đứng tên hợp đồng vay. Phía ng n hàng đề nghị vợ chồng bà chuyển nhượng cho con g i bà là Trương Thị Ngọc H để làm thủ tục vay vốn. Nên vợ chồng bà đã chuyển nhượng nhà và đất trên để cho vợ chồng ông Đ và bà H đứng tên làm thủ tục vay vốn tại ng n hàng. Khi không c n khả năng trả nợ ng n hàng. Phía ng n hàng có đến nhà gặp bà kêu bà cố gắng thu xếp để thanh to n nợ cho Ng n hàng. Nếu không ng n hàng sẽ khởi kiện. Vì lý do đó, bà đã đồng ý cho vợ chồng ông Đ, bà H b n căn nhà và đất cho bà Nguyễn Thị Hoài T với gi 2.400.000.000 đồng. Số tiền trả nợ ng n hàng là 2.070.000.000 đồng. C n lại số tiền 330.000.000 đồng bà là người nhận. Vì nhà và đất trên là của bà nên bà phải nhận số tiền này. Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà đồng ý để ông Đ và bà H tiếp tục hợp đồng chuyển nhượng với bà Nguyễn Thị Hoài T. Bà không có tranh chấp với vợ chồng ông Đ, bà H về hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng bà (Trương Hoàng H và Th i Thị M) với ông Đ và bà H được ký vào năm 2019.
Tại bản n d n sự sơ thẩm số 37/2022/DS-ST, ngày 15 tháng 7 năm 2022 của T a n nh n d n thành phố T đã xử:
Căn cứ khoản 3, khoản 9, khoản 12 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 227; Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng d n sự năm 2015, Điều 117; Điều 119; Điều 500; Điều 501; Điều 502; Điều 503 Bộ Luật d n sự năm 2015;
Căn cứ Điều 188 Luật Đất đai năm 2013.
Căn cứ vào Điều 12, Điều 118 và Điều 122 Luật nhà ở năm 2014;
Căn cứ Điều 47; Điều 75 Luật Thi hành n d n sự.
Căn cứ Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 23/9/2020 giữa bà Nguyễn Thị Hoài T với ông Nguyễn Tấn Đ, bà Trương Thị Ngọc H được công chứng tại Ph ng Công chứng số 1 t nh Trà Vinh là hợp ph p. Công nhận thửa đất số 93, tờ bản đồ số 21, diện tích 133m2, trên đất có x y dựng căn nhà (01 tầng với diện tích x y dựng được cấp sở hữu là 133m2, thực đo là 118,38m2), tọa lạc tại số V, Đường L, Khóm X, Phường K, thành phố T thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Nguyễn Thị Hoài T.
2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trương Hoàng C và bà Đặng Hiền U về việc tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 23/9/2020 giữa bà Nguyễn Thị Hoài T với ông Nguyễn Tấn Đ, bà Trương Thị Ngọc H được công chứng tại Ph ng Công chứng số 1 t nh Trà Vinh vô hiệu.
Ngoài ra n sơ thẩm c n tuyên về án phí, chi phí thẩm định, định gi và cung cấp thông tin, n phí và quyền kh ng c o của c c đương sự theo luật định.
Ngày 26/7/2022 ông Trương Hoàng C và Đặng Hiền U kháng cáo yêu cầu:
- Sửa toàn bộ bản n d n sự sơ thẩm số 37/2022/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2022 của T a n nh n d n thành phố T, t nh Trà Vinh theo hướng b c toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoài T.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông C, bà U theo hướng tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 23/9/2020 giữa bà Nguyễn Thị Hoài T với ông Nguyễn Tấn Đ và bà Trương Thị Ngọc H.
Tại phiên t a phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không rút yêu cầu kh ng c o. C c đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ n và các bên đương sự không cung cấp bổ sung tài liệu chứng cứ tại phiên t a phúc thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm s t nh n d n t nh Trà Vinh về vụ n: Về thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ n đến trước khi mở phiên t a đã thực hiện ban hành văn bản tố tụng và tống đạt c c văn bản chuyển hồ sơ sang cho VKS đầy đủ và đúng theo quy định bộ luật tố tụng d n sự, Thẩm ph n thực hiện đúng về thời hạn xét xử phúc thẩm và Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng và đầy đủ về trình tự, thủ tục phiên tòa phúc thẩm, c c đương sự đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng d n sự.
Về nội dung vụ n: Xét kháng cáo ông Trương Hoàng C, bà Đặng Hiền U là hợp ph p và c n trong hạn luật định, đề nghị Hội đồng xét xử xét kh ng c o theo thủ tục phúc thẩm. Đối với yêu cầu kháng cáo của ông C, bà U: Xét thấy, tại khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014 quy định: Trường hợp mua bán, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng. Do đó Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 93, tờ bản đồ số 21, diện tích 133m2 trên đất có x y dựng căn nhà 01 tầng với diện tích x y dựng là 133m2, tọa lạc tại số V đường L, khóm X, phường K, thành phố T giữa bà T với ông Đ, bà H đã có hiệu lực từ ngày hợp đồng được công chứng, chứng thực vào ngày 23/9/2020, việc chuyển nhượng giữa hai bên đã nhận đủ tiền, giao nhà đất cho bà T quản lý sử dụng. Vì vậy, ngày 03/3/2021 Chi cục THADS thành phố T ra quyết định cưỡng chế, kê biên, xử lý tài sản là sau khi ông Đ, bà H thế chấp cho Ng n hàng và sau thời điểm chuyển nhượng cho bà T, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nhằm mục đích trả nợ cho Ng n hàng VIB không căn cứ ông Đ, bà H tẩu t n tài sản để trốn tr nh nghĩa vụ trả số nợ cho ông C, bà U, không có căn cứ cho rằng hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu. Từ ph n tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015 không chấp nhận yêu cầu kh ng c o của ông Trương Hoàng C và bà Đặng Hiền U, giữ nguyên Bản n d n sự sơ thẩm số 37/2022/DS-ST ngày 15/7/2022 của T a n nh n d n thành phố T, t nh Trà Vinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua xem xét c c tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ n, lời trình bày tranh luận của c c đương sự, ý kiến của Kiểm s t viên; Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tại phiên t a phúc thẩm hôm nay, người đại diện hợp ph p cho ông Trương Hoàng C và bà Đặng Hiền U yêu cầu hoãn phiên t a để định gi lại tài sản nhưng không đưa ra tài liệu, chứng cứ, chứng minh, hơn nữa khi T a n cấp sơ thẩm định gi và tại phiên t a sơ thẩm c c bên đồng ý, không khiếu nại, nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận.
Xét đơn kh ng c o của ông Trương Hoàng C và bà Đặng Hiền U còn trong thời hạn kh ng c o, nên hợp lệ được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét kh ng c o của ông Trương Hoàng C và bà Đặng Hiền U. Hội đồng xét xử nhận thấy: Ngày 23/9/2020 bà Nguyễn Thị Hoài T với ông Nguyễn Tấn Đ, bà Trương Thị Ngọc H xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 93, tờ bản đồ số 21, diện tích 133m2, trên đất có x y dựng căn nhà (01 tầng với diện tích x y dựng là 133m2), tọa lạc tại số V đường L, khóm X, phường K, thành phố T, với gi chuyển nhượng trong hợp đồng 1.500.000.000 đồng nhưng thực tế là 2.400.000.000 đồng, hợp đồng đã được công chứng vào ngày 23/9/2020 tại phòng Công Chứng số 1 t nh Trà Vinh. Phía bị đơn đã trực tiếp đến Ng n hàng VIB để thanh to n số nợ đã vay tại Ngân hàng VIB, ông Đ, bà H đã giao nhà cho bà T sửa chữa, sử dụng cho đến nay, c n bà T đã giao đủ tiền cho ông Đ, bà H từ thời điểm công chứng hợp đồng chuyển nhượng.
Vì vậy, việc ngày 25/9/2020 ông C, bà U nộp đơn yêu cầu thi hành n và ngày 25/9/2020 Chi cục THADS thành phố T ban hành Công văn số 231/ĐN-CCTHADS với nội dung đề nghị c c đơn vị có liên quan không chứng nhận c c giao dịch liên quan đến tất cả c c tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Đ, bà H, ngày 03/3/2021 Chi cục THADS thành phố T ra quyết định cưỡng chế, kê biên, xử lý tài sản là sau khi hợp đồng chuyển nhượng giữa bà T với ông Đ, bà H có hiệu lực ph p luật, nên tài sản mà Chi cục THADS thành phố T, yêu cầu tạm ngưng giao dịch và cưỡng chế kê biên của bà T chứ không c n thuộc quyền sở hữu của ông Đ, bà H.
Mặt kh c, ông Đ, bà H ký hợp đồng chuyển nhượng ngôi nhà và diện tích đất 133m2, tọa lạc tại số V đường L, khóm X, phường K, thành phố T là nhằm mục đích trả nợ vay Ngân hàng VIB mà trước đó ông Đ, bà H đã thế chấp vay 2.000.000.000 đồng. Nếu ông Đ, bà H không trả nợ cho Ng n hàng VIB thì Ngân hàng VIB sẽ ph t mãi tài sản thế chấp quyền sử dụng đất và căn nhà nêu trên, khoản tiền ph t mãi tài sản Ng n hàng VIB được ưu tiên thanh to n, không phải thanh toán cho ông C, bà U theo Bản n số 94/2020/DS-PT ngày 15/9/2020 của Tòa n t nh Trà Vinh, hơn nữa tại thời điểm ông C, bà U khởi kiện ông Đ, bà H đ i số tiền 900.853.333 đồng là ngày 06/9/2019 là sau ngày 04/7/2019 ngày mà ông Đ, bà H đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 93 tờ bản đồ số 21, diện tích 133m2, tọa lạc tại số V đường L, khóm X, phường K, thành phố T tại Ngân hàng VIB. Khi ông Đ, bà H vay tiền của ông C, bà U thì ông Đ, bà H cũng không giao nhà đất thửa số 93 tờ bản đồ số 21, diện tích 133m2, tọa lạc tại số V đường L, khóm X, phường K, thành phố T để đảm bảo tiền vay của ông C, bà U. Thời điểm bà T chuyển nhượng nhà đất là thực hiện trước khi ông C, bà U làm đơn yêu cầu Thi hành n Bản n số 94/2020/DS-PT ngày 15/9/2020 của T a n t nh Trà Vinh, việc kê biên tài sản của Chi cục THADS thành phố T, diễn ra sau ngày bà T, ông Đ, bà H thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất và căn nhà. Do đó không đủ căn cứ để cho là ông Đ, bà H tẩu t n tài sản để trốn tr nh nghĩa vụ trả số nợ trên cho ông C, bà U. Vì vậy, Toà n cấp sơ thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoài T và công nhận hợp đồng chuyển nhượng được x c lập ngày 23/9/2020 giữa bà T với ông Đ, bà H là có cơ sở. Do đó, kháng cáo của ông Trương Hoàng C và bà Đặng Hiền U không có cơ sở để Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận.
Xét thấy, đề nghị của Kiểm s t viên xét xử phúc thẩm là phù hợp với tài liệu chứng cứ vụ n và nhận định của Hội đồng xét xử, nên có căn cứ chấp nhận.
Về n phí phúc thẩm: Do kh ng c o của ông Trương Hoàng C, bà Đặng Hiền U không được chấp nhận nên ông C, bà U phải chịu n phí theo quy định ph p luật.
Vì c c lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng d n sự năm 2015.
Căn cứ Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kh ng c o của ông Trương Hoàng C, bà Đặng Hiền U.
Giữ nguyên bản n d n sự sơ thẩm số: 37/2022/DS-ST, ngày 15 tháng 7 năm 2022 của T a n nh n d n thành phố T.
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 23/9/2020 giữa bà Nguyễn Thị Hoài T với ông Nguyễn Tấn Đ, bà Trương Thị Ngọc H được công chứng tại Ph ng Công chứng số 1 t nh Trà Vinh là hợp ph p. Công nhận thửa đất số 93, tờ bản đồ số 21, diện tích 133m2, trên đất có x y dựng căn nhà (01 tầng với diện tích x y dựng được cấp sở hữu là 133m2, thực đo là 118,38m2), tọa lạc tại số V, Đường L, Khóm X, Phường K, thành phố T thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Nguyễn Thị Hoài T.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trương Hoàng C và bà Đặng Hiền U về việc tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 23/9/2020 giữa bà Nguyễn Thị Hoài T với ông Nguyễn Tấn Đ, bà Trương Thị Ngọc H được công chứng tại Ph ng Công chứng số 1 t nh Trà Vinh vô hiệu.
Về n phí phúc thẩm: Ông Trương Hoàng C và bà Đặng Hiền U phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) n phí d n sự phúc thẩm nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng n phí phúc thẩm đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0011763 ngày 26/7/2022 của Chi cục Thi hành n thành phố T, t nh Trà Vinh.
Trường hợp bản n, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành n d n sự thì người được thi hành n d n sự, người phải thi hành n d n sự có quyền thỏa thuận thi hành n. Quyền yêu cầu thi hành n, tự nguyện thi hành n hoặc bị cưỡng chế thi hành n theo quy định tại c c Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành n d n sự, thời hiệu thi hành n được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành n d n sự.
C c phần quyết định kh c của bản n sơ thẩm không có kh ng c o, không bị kh ng nghị có hiệu lực ph p luật kể từ khi hết hạn kh ng c o, kh ng nghị.
Bản n phúc thẩm có hiệu lực ph p luật kể từ ngày tuyên n./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND t nh Trà Vinh; - TAND thành phố T; - Chi cục THADS TP T; - Đương sự; - Lưu: HS, TDS. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Thành |