vanban.org

Bản án 113/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 15/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Quang T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Quang T 02 (hai) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 28/9/2021. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Quang T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Quang T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH V

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2021/HS-ST
Ngày: 15/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH V

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Bích

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Tiến Lực, ông Nguyễn Xuân Thịnh

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hiền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố P.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh V. Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh V xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 128/2021/TLST- HS ngày 25 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên Đinh Quang T, sinh năm 1977 tại V; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố Y, phường X, thành phố P, tỉnh V; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Thư T và bà Nguyễn Thị C (đã chết); vợ: Nguyễn Thị H (đã ly hôn), con: có 02 lớn sinh năm 2006 nhỏ sinh năm 2010.

- Tiền án: 03 tiền án. Cụ thể:

+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 159/HSTT ngày 28/9/2015 của TAND huyện S, thành phố H; xử phạt Đinh Quang T 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”. Chấp hành xong ra trại ngày 08/6/2017. Án phí 200.000đồng chưa thi hành.

+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 33/HSST ngày 03/7/2018 của TAND thành phố P; xử phạt Đinh Quang T 01 năm 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong ra trại ngày 18/01/2020. Án phí HSST 200.000 đồng; Án phí DS trong HSST 575.000 đồng; bồi thường cho chị Đoàn Thị T 11.500.000 đồng. Chưa thi hành.

+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 18/2020/HSST ngày 23/12/2020 của TAND thành phố P áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS 2015 (tái phạm) xử phạt Đinh Quang T 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt ra trại ngày 11/06/2021. Án phí HSST 200.000đồng, chưa thi hành. Chưa xóa án tích.

Quá trình hoạt động của bản thân: Đinh Quang T được gia đình nuôi ăn học đến hết lớp 07/12 thì nghỉ học ở nhà lao động tự do.

+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 33 ngày 17/7/1995 của TAND huyện Mê Linh, thành phố H xử phạt Đinh Quang T 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân (trị giá: 500.000 đồng). Đã xóa án tích

+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 22 ngày 27/5/1997 của TAND huyện Mê Linh, thành phố H xử phạt Đinh Quang T 18 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản của công dân (trị giá 630.000 đồng). Đã xóa án tích

+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 148 ngày 26/12/1998 của TAND tỉnh V xử phạt Đinh Quang T 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản của công dân ( trị giá 136.000 đồng). Đã xóa án tích

+ Tại bản án hình sự phúc thẩm số 59 ngày 19/9/2001 của TAND tỉnh V xử phạt Đinh Quang T 42 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (trị giá 600.000 đồng ). Đã xóa án tích

+ Ngày 30/6/2006 Chủ tịch UBND thị xã P ra quyết định số 940/QĐ-CT đưa Đinh Quang T đi cai nghiện bắt buộc tại trung T giáo dục – lao động xã hội tỉnh V, thời hạn 24 tháng. Ngày 18/7/2008 T chấp hành xong.

+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 23 ngày 15/7/2008 của TAND huyện Tam Dương, tỉnh V xử phạt Đinh Quang T 01 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Đã xóa án tích

+ Ngày 18/8/2011, Chủ tịch UBND thị xã P ra quyết định số 2162/QĐ-CT đưa Đinh Quang T đi cai nghiện bắt buộc tại trung T giáo dục – lao động xã hội tỉnh V, thời hạn 24 tháng. Ngày 09/9/2013 T chấp hành xong.

Bị cáo Đinh Quang T bị bắt tạm giam từ ngày 11/9/2020. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh V. (có mặt)

Người bị hại: Anh Đặng Thành C, sinh năm 1983 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 3, phường X, thành phố P, tỉnh V

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Tuấn A, sinh năm 1978 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Yên Mỹ 1, phường X, Tp. P, tỉnh V

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Quang T là đối tượng nghiện và thường xuyên sử dụng ma túy.

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 05/9/2021, do không có tiền mua ma túy sử dụng nên T đã nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền mua ma túy. T đi bộ đến ngõ 21 đường Nguyễn Văn L và quan sát xem có nhà nào sơ hở trong việc bảo quản tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp. Khi đến số nhà 01 của anh Đặng Thành C, T phát hiện cổng nhà anh Công đang mở và có 03 chiếc xe đạp đang được dựng ở sân. Sau khi quan sát xung quanh không có người, T mở cổng rồi đi vào trong sân trộm cắp 01 chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu KEYSTO K609 màu ghi xám được dựng tại vị trí ngoài cùng, bên phải sân rồi đạp xe đến quán nước của anh Bùi Tuấn A bán cho anh Tuấn A với giá 1.000.000đồng. Do không đủ tiền anh Tuấn A đã trả cho T thành 03 lần: Lần 1 là vào buổi tối ngày 05/9/2021= 300.000đồng; Lần 2 là vào buổi sáng ngày 06/9/2021= 400.000đồng; Lần 3 là vào buổi chiều ngày 07/9/2021= 300.000đồng. Số tiền trên T đã đi mua ma túy và sử dụng hết.

Ngày 09/9/2021 anh Bùi Tuấn A đã tự nguyện giao nộp chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu KEYSTO K609 màu ghi xám đã mua được của Đinh Quang T để phục vụ quá trình điều tra, giải quyết vụ án.

Tại kết luận định giá tài sản số 61 ngày 13/09/2021 của Hội đồng định giá tài sản thành phố P, kết luận: “01 chiếc xe đạp thể thao màu xám ghi nhãn hiệu Keysto K609 tại thời điểm ngày 05/9/2021 có giá trị là 3.500.000đồng”.

Ngày 27/10/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 487, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử: chụp, in ảnh và mô tả đặc điểm của người, phương tiện xuất hiện trong 01 đoạn video clip do anh Đặng Thành C giao nộp và sao lưu tệp tin ra đĩa DVD.

Ngày 09/11/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh V đã ban hành Bản Kết luận giám định số 2918, kết luận: “Trích xuất được 04 (bốn) ảnh mô tả đặc điểm của người và phương tiện xuất hiện trên tập tin video gửi giám định, chi tiết được thể hiện trong bản ảnh giám định. Sao in được tập tin video gửi giám định sang đĩa DVD”.

Trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà bị cáo Đinh Quang T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và xin được hưởng khoan hồng của pháp luật.

Tại Cáo trạng số: 100/CT - VKSTPY ngày 24 tháng 11 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố Đinh Quang T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Đinh Quang T; sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự 2015. Phạt bị cáo T từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 28/9/2021.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý kiến của kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà Đinh Quang T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như: Lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 05/9/2021, Đinh Quang T có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu KEYSTO K609, trị giá 3.500.000đồng của anh Đặng Thành C, sinh năm 1980, trú tại tổ 3, phường X, thành phố P, tỉnh V. Về nhân thân Bị cáo Đinh Quang T có 03 tiền án, trong đó có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản, đều chưa được xóa án tích. Do đó hành vi của Đinh Quang T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”; tội danh được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, cụ thể.

Khoản 2 Điều 173 quy định:

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

………………………………………..

g) Tái phạm nguy hiểm”.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu: Có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy túy”; hai tiền án về tội trộm cắp tài sản cụ thể. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 33/HSST ngày 03/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố P; xử phạt Đinh Quang T 01 năm 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong ra trại ngày 18/01/2020. Án phí HSST 200.000 đồng; Án phí DS trong HSST 575.000 đồng; bồi thường cho người bị hại 11.500.000 đồng, bị cáo chưa thi hành và Tại bản án hình sự sơ thẩm số 18/2020/HSST ngày 23/12/2020 của TAND thành phố P áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS 2015 (tái phạm) xử phạt Đinh Quang T 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt ra trại ngày 11/06/2021. Án phí HSST 200.000đồng, chưa thi hành. Chưa xóa án tích. Nên hành vi phạm tội lần này của bị cáo bị tính là tái phạm nguy hiểm. Ngoài ra, bị cáo còn 04 lần bị kết án về tội “trộm cắp tài sản”, 01 lần bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã được xóa án tích và 02 lần bị đưa đi cai nghiện bắt buộc, đã được xóa tiền sự. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho mình, tự giáo dục cải tạo bản thân mà tiếp tục phạm tội thể hiện thái độ coi thường pháp luật không chịu tu dưỡng của bị cáo. Nên cần có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo phạt bị cáo mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo.Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Do đó áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo:

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Chiếc xe đạp thể thao màu ghi xám nhãn hiệu Keysto K609 là tài sản hợp pháp của anh Đặng Thành C. Ngày 05/10/2021, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Công, anh Công đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về việc bồi thường. Nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với anh Bùi Tuấn A không biết chiếc xe đạp mua của T là tài sản do phạm tội mà có, nên không đề cập việc xử lý. Nay anh Tuấn Akhông yêu cầu T phải trả lại số tiền 1.000.000đồng. Nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Đinh Quang T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Quang T 02 (hai) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 28/9/2021.

Căn cứ Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Đinh Quang T phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Cỡ chữ