- Tranh chấp gì? án hình sự — "113 - 2021 Bùi Ngọc Anh T - CYGTT điểm đ K2 . 134 - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luậ…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Bùi Ngọc Anh T 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính kể từ ngày 20/10/2020.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 113/2021/HS-ST Ngày: 04–6–2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- A phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Lý Ngọc Mạnh.
2/ Bà Đặng Thu Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Mai Ngọc Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2021/QĐXXST-HS, ngày 21/5/2021 đối với bị cáo:
Bùi Ngọc Anh T (tên gọi khác: Tí), sinh ngày 29/12/1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: (HKTT: Kế D32 CX VH, Phường S, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Làm công; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn J và bà Hà Ngọc I; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị bắt tạm giam từ ngày 20/10/2020 đến nay. (Có mặt).
- Bị hại:Anh Nguyễn Tấn A, sinh năm: 1994; nơi cư trú: Số 314/48/7 Đường D, Phường E, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1970; nơi cư trú: Số 219/38/2A Đường Q, Phường E, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
2/ Ông Dương Duy N, sinh năm: 1969; nơi cư trú: Số 314/22 Đường D, Phường E, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
3/ Ông Phạm Văn M, sinh năm: 1964; nơi cư trú: Số 451/178/169 Đường G, Phường E, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
4/ Anh Nguyễn Tấn A, sinh năm: 1994; nơi cư trú: Số 314/48/7 Đường D, Phường E, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Ngọc Anh T và Nguyễn Tấn A có mối quen biết bạn bè ngoài xã hội với nhau.
Vào khoảng 22 giờ, ngày 28/7/2020, Bùi Ngọc Anh T điều khiển xe gắn máy loại DH88, biển số 53P8 – 9032 đến khu vực trường KB, Phường 3, Quận 8 thì gặp Huỳnh Văn L đi xe gắn máy biển số 52F2-8993. Tại đây T đề nghị L đổi xe với T để T đi chơi với bạn thì L đồng ý nên L giao xe Wave của L cho T, còn T đưa xe của T đang đi cho L và hẹn sáng ngày hôm sau hai bên trả lại xe cho nhau.
Sau khi đổi xe, do xe của T gần hết xăng, nên L đem xe của T dựng trước nhà thuê trọ của Danh (không rõ lai lịch) trong hẻm Đường D, Phường E, Quận B. Đến khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 29/7/2020, L đến nhà trọ của Danh để lấy xe thì phát hiện xe đã bị người khác lấy. L đi tìm xung quanh thì phát hiện Nguyễn Tấn A là người đã lấy trộm xe của T sử dụng, L kêu A trả lại xe gắn máy cho T, nhưng A không trả; nên L nói cho T biết việc bị A lấy trộm xe của T. Sau đó, T về nhà lấy một con dao tự chế rồi giấu trong áo khoác với mục đích để chống trả lại khi xảy ra xô xát với với A.
Khi T vừa ra đến cửa nhà thì gặp Bùi Văn R (là người quen) nên nhờ R chở đi lấy xe về. R điều khiển xe gắn máy biển số 59H1-091.71 chở T đến hẻm 314 Đường D, Phường E, Quận B (cách đình KB khoảng 20m) thì T nói R dừng xe ở đây, còn T đi bộ về phía nhà A để tìm và lấy xe về.
Khi T đi đến trước đình KB, T thấy chiếc xe của mình đang dựng trước cửa đình KB (xe đã bị tháo 02 ốp bên hông xe, biển số xe và phần đèn xe). T tiến lại gần và định dắt xe về thì A từ trong hẻm bên cạnh đình KB đi ra thì chửi mắng T rồi dùng tay đánh vào mặt T, nhưng T không phản ứng lại. T dắt xe đi về phía R thì gặp Lê Thế X (là người quen) nên T nhờ X dắt xe về dùm T và T lên xe R chở về thì A đứng ở phía trước đầu xe của R và tiếp tục chửi bới T và R, nên giữa T và A xảy ra cự cãi. Do bực tức A, nên T bước xuống xe và rượt đuổi theo A, nhưng không đuổi kịp; nên T cùng R đi về nhà. Trên đường về nhà, khi T và R đi ngang qua Nhà Văn hoá của khu phố thì A đứng ở bên trong tiếp tục chửi T và R; lúc này, T nhảy xuống xe do R đang điều khiển và chạy đến chỗ A đang đứng trước số nhà 314/1B Đường D, Phường E, Quận B rồi dùng con dao tự chế đem theo chém vào người A trúng đầu, hai tay và đầu gối gây thương tích. Thấy vậy, R vào can ngăn T và yêu cầu T lên xe để R chở về nhà để tránh tiếp tục xảy ra đánh nhau giữa T và A. Trên đường đi về thì T phát hiện A vẫn đi phía sau T và R, lúc này T nhìn thấy có một cây kéo để trên bàn tại quán cơm của ông Nguyễn Văn H (sát đường đi) và nghĩ là A sẽ lấy cây kéo đâm T, nên T lấy cây kéo cất giấu trong người rồi tiếp tục đi về nhà.
Đến ngày 15/10/2020, T được đưa về trụ sở Công an phường để làm rõ.
Tại Cơ quan điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định pháp ý về thương tích số 847/TgT.20 ngày 16/9/2020 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh, xác định về thương tích của anh Nguyễn Tấn A:
- Chấn thương phần mềm vùng đầu đã được khâu vết thương, hiện còn một sẹo tại đỉnh phải kích thước 5,5x(0,1-0,3)cm (ảnh 1).
Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn, vật có cạnh sắc, vật tày tác động gây ra.
- Đa vết thương phần mềm đã được điều trị khâu vết thương hiện còn:
+ Hai sẹo tại 1/3 giữa mặt sau cẳng tay phải kích thước lần lượt là 2,5x(0,2-0,3)cm (ảnh 2.1) và 3,5x(0,2-0,5)cm (ảnh 2.2).
+ Một sẹo tại 1/3 giữa mặt sau cẳng tay trái kích thước 3x(0,1-0,2)cm (ảnh 3).
+ Hai sẹo tại mu cổ bàn tay trái kích thước lần lượt là 3x(0,2-0,3)cm (ảnh 4.1) và 2x(0,1-0,3)cm (ảnh 4.2).
+ Một sẹo mặt trước trong gối phải kích thước 7x(0,1-0,7) (ảnh 5).
- Vết thương tại mu bàn tay phải gây đứt gân duỗi ngón 3-4 đã được khâu nối gân và vết thương, hiện còn một sẹo kích thước 8x(0,1-0,2)cm (ảnh 6).
- Vết thương tại kẽ ngón 2-3 bàn tay phải gây đứt gân gấp ngón 2 đã được khâu nối gân và vết thương, hiện còn một sẹo kích thước 6x(0,05-0,1)cm (ảnh 7, 8).
- Vết thương tại mặt trước gối trái đã được khâu vết thương, hiện còn:
+ Hai sẹo có kích thước lần lượt 5x0,4cm (ảnh 9.1) và 2,5x0,4cm (ảnh 9.2).
+ Hình ảnh mất liên tục mạc bánh chè ngoài gần nơi bám, dập nhẹ bờ trước ngoài xương bánh chè, dập phù mô mềm mặt trước ngoài gối trên phim cộng hưởng từ ngay dưới vị trí sẹo.
Các thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn, vật có cạnh sắc tác động gây ra.
Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 17%.
Các thương tích trên không gây nguy hiểm đến tính mạng đương sự.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Nguyễn Tấn A yêu cầu xử lý hình sự đối với Bùi Ngọc Anh T đã gây thương tích cho A và khai nhận việc A lấy trộm chiếc xe của T vì trước đây A thích chiếc xe này và có hỏi mua chiếc xe này của một người Thanh niên (không rõ họ, tên, địa chỉ) quen biết ngoài xã hội với A và T; nhưng người Thanh niên này không bán xe cho A mà lại bán xe cho T.
Ngày 05/3/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 8 có kết luận định giá tài sản, xác định xe gắn máy hiệu DH88, màu đỏ, trị giá là 1.000.000 đồng.
Vật chứng liên quan:
- 01 xe gắn máy biển số 59H1 – 091.71, số máy: E-0772114, số khung: Y-056379 do chị Trần Thị Kim Y đứng tên giấy đăng ký xe. Ngày 25/5/2019, chị Y bán xe gắn máy trên cho anh Huỳnh I; sau đó anh Trí bán lại xe cho Bùi Văn R để sử dụng làm phương tiện đi lại. Ngày 29/7/2020, R điều khiển xe gắn máy trên chở Bùi Ngọc Anh T đi lấy lại xe gắn máy loại DH88, màu đỏ, biển số 53P8 – 9032; nhưng R không biết T có mang theo hung khí, sau khi lấy được xe gắn máy thì T dùng dao chém anh A gây thương tích thì R không tham gia và không liên quan; khi thấy T dùng dao chém A thì R chạy vào can ngăn T để tránh hậu quả xấu xảy ra. Ngày 16/3/2021, Cơ quan điều tra đã trả xe gắn máy trên cho anh R.
- 01 xe gắn máy hiệu DH88, màu đỏ, biển số: Không, số máy: Không, số khung: Không (xe của T sử dụng bị Nguyễn Tấn A lấy trộm): Bùi Ngọc Anh T khai mua của một Thanh niên không rõ lai lịch vào tháng 4/2020 để làm phương tiện đi lại, giá mua xe là 5.500.000 đồng, khi mua xe không có làm giấy tờ mua bán, hai bên chỉ giao tiền và giấy tờ xe (nhưng T không có kiểm tra giấy tờ xe và tình trạng chiếc xe, hiện nay giấy đăng ký xe đã bị mất).
- 01 con dao kim loại cán nhựa màu đen, dài khoảng 30cm; 01 áo khoác màu xanh lá, in chữ GRAB; 01 cây kéo kim loại cán bọc nhựa màu đen, dài khoảng 15cm (do ông Phạm Văn M giao nộp).
- 01 USB hiệu Kingston, màu xanh, 4G (do ông Dương Duy N giao nộp): Lưu giữ hình ảnh của Bùi Văn R chở Bùi Ngọc Anh T đi tìm chiếc xe gắn máy của T và việc T gây thương tích cho anh Nguyễn Tấn A.
Về trách nhiệm dân sự:
- Anh Nguyễn Tấn A yêu cầu T bồi thường số tiền 15.000.000 đồng (gồm tiền chữa trị vết thương và tổn thất tinh thần), ngoài ra, không có yêu cầu gì khác.
- Bùi Ngọc Anh T không có yêu cầu Nguyễn Tấn A bồi thường trị giá chiếc xe mà A lấy trộm của T.
Đối với Nguyễn Tấn A có hành vi “Trộm cắp tài sản”, nhưng không đủ yếu tố để truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 15/3/2021, Công an Quận 8 đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Tấn A về hành vi “Trộm cắp tài sản”, với số tiền là 1.500.000 đồng. (Theo điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP).
Đối với Huỳnh Văn L, Bùi Văn R, Lê Thế X không liên quan hành vi phạm tội của Bùi Ngọc Anh T; nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Bản Cáo trạng số 85/CT-VKSQ8 ngày 06/4/2021, của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Bùi Ngọc Anh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Bùi Ngọc Anh T mức án từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại A số tiền 15.000.000 đồng theo yêu cầu của anh A.
- Ngoài ra, kiểm sát viên còn đề nghị xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao kim loại cán nhựa màu đen, dài khoảng 30cm; 01 áo khoác màu xanh lá in chữ GRAB; 01 cây kéo kim loại cán bọc nhựa màu đen, dài khoảng 15cm.
+ Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB hiệu Kingston, màu xanh, 4G.
+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe gắn máy hiệu DH88, màu đỏ, biển số: Không, số máy: Không, số khung: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của: Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, không có khiếu nại gì về hành vi và quyết định của người tiến hành tố tụng, của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, của Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Ngọc Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi sử dụng 01 (một) con dao kim loại, cán nhựa màu đen, dài khoảng 30cm tấn công gây thương tích cho bị hại là anh Nguyễn Tấn A, vào khoảng hơn 07 giờ 30 phút, ngày 29/7/2020, tại trước số nhà 314/1B Đường D, Phường E, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hậu quả gây nên thương tích cho anh Nguyễn Tấn A với tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là 17% (Mười bảy phần trăm).
Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung Bản Cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Do đó, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Bùi Ngọc Anh T đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung hình phạt: Mặc dù bị cáo Bùi Ngọc Anh T gây ra tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại anh Nguyễn Tấn A là 17%, nhưng bị cáo đã sử dụng 01 (một) con dao kim loại, cán nhựa màu đen, dài khoảng 30cm tấn công gây ra thương tích cho bị hại; nên được xác định là hung khí nguy hiểm. Đây là tình tiết được quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, bị cáo Bùi Ngọc Anh T phải bị xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (nhưng thuộc trường hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo A khẩn khai báo, ăn năn hối cải về lỗi lầm đã gây ra; bị cáo phạm tội lần đầu; bị hại cũng là người có lỗi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố đối với bị cáo Bùi Ngọc Anh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, mức án mà Kiểm sát viên đề nghị phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự:
- Trong vụ án “Cố ý gây thương tích”: Mặc dù vắng mặt tại phiên tòa, nhưng bị hại (anh Nguyễn Tấn A) có yêu cầu bị cáo bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm, với số tiền là 15.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh Nguyễn Tấn A, nên bị cáo phải có trách nhiệm thực hiện bồi thường một lần số tiền nêu trên, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Đối với chiếc xe gắn máy loại DH88, màu đỏ, biển số 53P8 – 9032 (đã bị mất), số khung: Không, số máy: Không. (Chiếc xe của Bùi Ngọc Anh T bị Nguyễn Tấn A lấy trộm và đang bị thu giữ trong vụ án): Bị cáo Bùi Ngọc Anh T không có yêu cầu Nguyễn Tấn A bồi thường, nên không xem xét giải quyết.
Về vật chứng liên quan vụ án:
- Đối với các tài sản không liên quan vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp theo quy định của pháp luật.
- 01 USB hiệu Kingston, màu xanh, 4G (lưu hình ảnh liên quan vụ án, được trích xuất từ dữ liệu Camera anh ninh, do ông Dương Duy N giao nộp và ông Tân không có yêu cầu nhận lại): Đây là vật chứng liên quan vụ án, nên tịch thu và tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
- 01 con dao kim loại cán nhựa màu đen, dài khoảng 30cm (bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội và hiện không có giá trị sử dụng); 01 áo khoác màu xanh lá in chữ GRAB (là tài sản của bị cáo T và bị cáo đã sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, hiện không có giá trị sử dụng và bị cáo không có yêu cầu nhận lại); 01 cây kéo kim loại, cán bọc nhựa màu đen, dài khoảng 15cm (là tài sản của ông Nguyễn Văn H – chủ quán cơm, ông X không có yêu cầu nhận lại và hiện không có giá trị sử dụng): Do ông Phạm Văn M giao nộp, xét không có giá trị sử dụng; nên tịch thu và tiêu hủy.
- 01 (một) chiếc xe gắn máy hiệu DH88, màu đỏ, biển số: Không có; qua giám định không xác định được số khung và số máy nguyên thủy (do bị mài mất số). Đây là phương tiện cấm lưu hành, nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Tấn A có hành vi “Trộm cắp tài sản”, nhưng không đủ yếu tố để truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 15/3/2021, Công an Quận 8 đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Tấn A về hành vi “Trộm cắp tài sản”, với số tiền là 1.500.000 đồng (Theo điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP), là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Đối với Huỳnh Văn L, Bùi Văn R, Lê Thế X không liên quan hành vi phạm tội của Bùi Ngọc Anh T; nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm đ Khoản 2 Điều 134 (nhưng thuộc trường hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này); điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
+ Xử phạt: Bị cáo Bùi Ngọc Anh T 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính kể từ ngày 20/10/2020.
- Về trách nhiệm dân sự:
+ Không giải quyết đối với chiếc xe gắn máy loại DH88, màu đỏ, biển số: Không có, số khung: Không, số máy: Không (chiếc xe của bị cáo Bùi Ngọc Anh T đã bị Nguyễn Tấn A lấy trộm trước đó và đang bị thu giữ trong vụ án); do bị cáo Bùi Ngọc Anh T không có yêu cầu.
+ Trong vụ án “Cố ý gây thương tích”: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều: 584, 585, 586, 587, 590, 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 cùng Luật Thi hành án Dân sự;
Buộc bị cáo Bùi Ngọc Anh T thực hiện bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại là anh Nguyễn Tấn A, với số tiền là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
Thi hành việc bồi thường một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều: 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
+ Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) con dao kim loại cán nhựa màu đen, dài khoảng 30cm; 01 (một) áo khoác màu xanh lá in chữ GRAB; 01 (một) cây kéo kim loại, cán bọc nhựa màu đen, dài khoảng 15cm.
+ Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc xe gắn máy hiệu DH88, màu đỏ, biển số: Không, số khung: Không, số máy: Không.
+ Tịch thu và tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) USB hiệu Kingston, màu xanh, 4G (lưu hình ảnh liên quan vụ án và được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh bảo quản trong một phong bì thư, đánh số bút lục là 170).
(Vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 18/3/2021 tại Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 vaø Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Bùi Ngọc Anh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa; có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình, trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - PC.53 CA TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - VKSND Q.8; - Chi cục THADS Q.8; - CQĐT CAQ.8; - CQTHAHS Q.8; NTG CAQ.8; - Bị cáo, bị hại; người tham gia tố tụng khác; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Trọng Trúc |