vanban.org

Bản án 113/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 10/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố : Bị cáo Trịnh Đức Anh K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Vận chuyển trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Đức Anh K 02 năm 06 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy. 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là 04 năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 05/3/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Đức Anh K phạm tội Tàng trữ trái pháp chất ma túy và tội Vân chuyển trái phép chất ma túy - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố : Bị cáo Trịnh Đức Anh K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Vận chuyển trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH KIỀU,
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2021/HS-ST
Ngày: 10/9/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Tiến.

- Các Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Nguyễn Tấn Triều

2. Bà Hồ Thị Kim Luyến

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Sang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hải Đạt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 106/2021/TLST-HS, ngày 14 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 545/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Trịnh Đức Anh K, sinh ngày 08 tháng 1 năm 1998, tại: Cần Thơ.

Nơi cư trú: 54 C, khu vực 6 phường C, quận N, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: thợ làm bánh mì; trình độ văn hóa: 7/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Đức H và bà Nguyễn Thị Kim C; sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thiên N, có 01 con sinh năm 2019; tiền án: Ngày 26/9/2016 bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xử phạt 01 năm 05 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tiền sự: Ngày 26/8/2019 bị Tòa án nhân dân quận 6, thành phố Hồ Chí Minh, ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 15/10/2020; bị cáo bị bắt ngày 05/3/2021, có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trịnh Đức H, sinh năm 1972. Vắng mặt.

Nơi cư trú: 54 C, khu vực 6 phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.

2. Ông Trịnh Đức Anh H1, sinh năm 1998. Vắng mặt.

Nơi cư trú: 61/37 H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhận được thông tin trình báo của quần chúng nhân dân, vào lúc 09 giờ 20 phút ngày 05/3/2021, lực lượng Phòng PC04 – Công an thành phố Cần Thơ kết hợp với Công an phường Thới Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, tiến hành khám xét khẩn cấp người, phương tiện, đồ vật đối với Trịnh Đức Anh K. Khi K đang điều khiển xe mô tô biển số 65B1-487.57 đến đầu hẻm 35 đường Phạm Ngũ Lão, khu vực 4 phường Thới Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Qua khám xét thu giữ: 01 gói nylon không màu có nẹp miệng, bên trong có chứa tinh thể không màu (thu giữ trong túi quần trước bên phải Kiệt đang mặc); 01 xe mô tô hiệu SYM, biển số 65B1-487.57.

Đến khoảng 11 giờ cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Cần Thơ tiếp tục khám xét chỗ ở của Trịnh Đức Anh K tại địa chỉ số 54 đường C, khu vực 6, phường C, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, thu giữ tại phòng ngủ của Kiệt, 01 gói nylon không màu có nẹp miệng, bên trong có chứa tinh thể không màu.

Tại bản kết luận định giám định số 86/KLGĐ-PC09 ngày 12/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ kết luận:

Tinh thể không màu trong gói nylon (ký hiệu M1) gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,2383 gam.

Tinh thể không màu trong gói nylon (ký hiệu M2) gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,3571 gam.

Tại cơ quan điều tra K khai nhận: Vào ngày 02/3/2021, bị cáo đã nhờ đối tượng tên Lộc (không rọ họ tên, địa chỉ), mua giùm 3.000.000 đồng ma túy đá. Nhận được ma túy bị cáo đem về nhà cất giữ và lấy một ít sử dụng.

Đến ngày 05/3/2021 bị cáo tiếp tục lấy ma túy chia thành 2 gói, 1 gói cất giữ tại nhà, 01 gói bị cáo bỏ vào túi quần trước bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô biển số 65B1-487.57 đi tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng công an phát hiện và thu giữ, sau đó khám xét nhà của bị cáo thu giữ gói ma túy còn lại. Tất cả số ma túy này bị cáo khai mua để sử dụng cho bản thân.

Đối với người tên Lộc chưa xác minh được nhân thân, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với xe mô tô biển số 65B1-487.57 qua xác minh xe này của ông Trịnh Đức H2 là chủ sở hữu. Năm 2018 ông H2 chết để lại cho ông H (cha bị cáo) quản lý sử dụng. Ngày 05/3/2021 ông H cho bị cáo mượn xe trên đi uống cà phê, không biết K sử dụng xe vào việc phạm tội.

Cáo trạng số 123/2021/CT-VKSNK ngày 09-6-2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, truy tố bị cáo Trịnh Đức Anh K về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy theo điểm c theo khoản 1 Điều 250 và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s, khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ năm 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Mức án từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, hình phạt chung bị cáo phải chấp hành của hai tội danh là từ 04 năm đến 05 năm tù

Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy hai gói ma túy ký hiệu M1, M2 đã được niêm phong.

Trả lại xe mô tô hiệu SYM, biển số 65B1-487.57 cho ông Trịnh Đức H.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ninh Kiều, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tội danh: Bị cáo đang điều khiển xe mô tô biển số 65B1-487.57 lưu thông trên đường Phạm Ngũ Lão, phường Thới Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng xe, khám xét thu giữ trong túi quần trước bên phải của bị cáo, 01 gói nylon không màu có nẹp miệng, chứa tinh thể không màu. Bị cáo thừa nhận đó là ma túy, bị cáo đang đi tìm nơi để sử dụng.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục khám xét nơi ở của bị cáo tại địa chỉ 54 C, phường C, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Thu giữ 01 gói nylon không màu nẹp miệng chứa tinh thể không màu, tại phòng ngủ của bị cáo. Bị cáo thừa nhận đây là số ma túy, bị cáo mua về cất giấu để sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 86/KLGĐ-PC09 ngày 12/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ kết luận:

Tinh thể không màu trong gói nylon (ký hiệu M1) gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,2383 gam.

Tinh thể không màu trong gói nylon (ký hiệu M2) gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,3571 gam.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Vận chuyển trái phép chất ma túy, do khối lượng ma túy bị cáo vận chuyển là 0,2383 gam, khối lượng ma túy tàng trữ trái phép là 1,3571 gam, nên Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều căn cứ theo điểm c theo khoản 1 Điều 249, điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật, mức hình phạt đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.

Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, cũng là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác, bị cáo biết rõ, ma túy là chất cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng… nhưng vẫn xâm phạm đến sự quản lý độc quyền, của nhà nước về các chất ma túy. Là thanh niên trẻ, có sức khỏe không lo lao động giúp ích cho bản thân, gia đình và xã hội, mà sa đà vào con đường nghiện ngập để hủy hoại sức khỏe và tương lai của chính mình, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Bị cáo có một tiền án về tội Trộm cắp chưa được xóa án tích, một tiền sự áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa đi cai nghiện bắt buộc, bị cáo vừa chấp hành xong chưa bao lâu, lại tái nghiện và phạm tội. Cho thấy bị cáo là người rất ngoan cố, khó sửa đổi và xem thường pháp luật. Cần phải có hình phạt nghiêm khắc để giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án chưa được xóa án tích, mà lại tiếp tục phạm tội, do đó bị cáo cần phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm, theo quy định điểm h khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự.

Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cùng các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo mức án 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, 02 năm 06 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, hình phạt chung bị cáo phải chấp hành 04 năm tù.

[5] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 gói niêm phong: số 86G/KLGĐ-PC09 có khối lượng còn lại 0,2383 gam; số 86G2/KLGĐ-PC09 có khối lượng còn lại 1,2957 gam.

Đối với xe mô tô biển số 65B1-487.57 qua xác minh xe này của ông Trịnh Đức H2 là chủ sở hữu, ông H2 sống cùng nhà với em ruột là ông Trịnh Đức H. Năm 2018 ông H2 trước khi chết đã tặng cho xe trên cho ông H (cha bị cáo) quản lý sử dụng. Ông H có đơn yêu cầu xin nhận lại tài sản. Ông H2 tặng cho lại tài sản cho ông H, dù hai bên chưa làm văn bản và thực hiện các thủ tục chuyển quyền sở hữu theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên ông H đã sử dụng xe từ năm 2018 đến nay, giữa ông H và con của ông H2, là anh Trịnh Đức Anh H1 cũng không xảy ra tranh chấp về quyền sở hữu. Anh H1 trong quá trình điều tra có ý kiến là anh biết và đồng ý với việc cha của anh trước khi mất đã tặng cho xe mô tô biển số 65B1-487.57 cho ông H, anh đồng ý cho ông H1 toàn quyền quản lý sử dụng xe, cam kết không có tranh chấp về sau (BL 59-60).

Bị cáo thừa nhận, hỏi mượn xe của cha bị cáo để đi uống cà phê, sau đó sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện vận chuyển trái phép ma túy, đã làm rõ trong quá trình điều tra, ông H không biết việc làm phạm tội của bị cáo. Do đó có cơ sở trả lại xe mô tô biển số 65B1-487.57 cho ông Trịnh Đức H.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố : Bị cáo Trịnh Đức Anh K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Vận chuyển trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Đức Anh K 02 năm 06 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy. 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là 04 năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 05/3/2021.

[1] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 02 gói niêm phong: số 86G/KLGĐ-PC09 có khối lượng còn lại 0,2383 gam; số 86G2/KLGĐ-PC09 có khối lượng còn lại 1,2957 gam.

Trả lại cho ông Trịnh Đức H xe mô tô hiệu SYM màu xanh đen, số loại GALAXY SR biển số 65B1-487.57, số máy VMVBACD009989, số khung RLGMD11HDED009989.

[2] Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm,

[3] Về kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ