- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn D phạm Tội trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI. ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 113/2021/HS-ST Ngày 07 - 7 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà: Thái Thị Hà Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà: Nguyễn Thị Nga
Bà: Nguyễn Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà: Nguyễn Thị Thiện Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm tham gia phiên tòa: Bà: Nguyễn Thị Ngọc Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/TLST-HS, ngày 03 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2021/QĐST-HS, ngày 25/6/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh năm 1981 tại Hà Nội; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: số nhà 2x, đường 32x/2x, tổ 1x, phường Phúc L, quận Long B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 1/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Ngô Thị Ng, sinh năm 1948; Vợ: đã ly hôn; Con: có 01 con, sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: có 02 tiền án và 02 tiền sự: Bản án số 76/2016/HSST, ngày 20/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt bị cáo 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/12/2016; Bản án số 45/2017/HSST, ngày 21/12/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt bị cáo 07 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/4/2018; Bị cáo đi cai nghiện bắt buộc theo Quyết định của Chủ tịch UBND quận Long Biên đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng và bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện, đến ngày 06/3/2014 chấp hành xong về địa phương; Ngày 30/12/2015, bị Công an phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo khởi tố tại ngoại, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. (Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Anh Đào Công D, sinh năm 1984
Địa chỉ: Phù Đ 1 (xóm T), xã Phù Đ, huyện Gia L, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 30, ngày 03/02/2021, D đi xe máy từ nhà ở tổ 10, phường Phúc L, Long B, Hà Nội mục đích để trộm cắp tài sản. Khi đến thôn Phù Đổng 1, xã Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội, D thấy nhà anh Đào Công D không khóa cửa, không có ai, D để xe ngoài đường rồi đi bộ vào và mở cửa xếp lấy trộm 01 máy cưa xích nhãn hiệu Husqvarna 353 màu cam, 01 máy cưa điện nhãn hiệu Makita 5012 B màu xanh ở trên giá gỗ sát tường gần cửa ra vào, D mang ra ngoài cho lên xe máy của D rồi điều khiển xe máy đi đến đoạn đường Đê thuộc thôn Phù Đổng 1. Trên đường đi, D nhớ ra trong nhà anh Đào Công D còn có một chiếc xe đạp địa hình nhãn hiệu Asama màu xanh đen nên D quay lại để lấy trộm chiếc xe này. Đến nhà anh Đào Công D, D vào nhà dắt chiếc xe đạp ra, buộc sau xe máy. Sau đó D đi về nhà cất giấu toàn bộ tài sản đã trộm cắp được và đi ngủ. Khoảng 14 giờ cùng ngày, D mang chiếc xe đạp, cưa xích, máy cưa điện mà D đã trộm được ở nhà anh Đào Công D bán cho một người đàn ông không quen biết với giá 1.000.000 đồng. Số tiền này D đã tiêu xài cá nhân hết. Ngày 01/3/2021, anh Đào Công D làm đơn trình báo cơ quan Công an về việc anh bị mất trộm tài sản. Qua rà soát, cơ quan Công an đã xác định được Nguyễn Văn D là đối tượng trộm cắp tài sản của anh Đào Công D. Tại cơ quan Điều tra, Nguyễn Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.
Ngày 03/3/2021, Cơ quan cảnh sát Điều tra – Công an huyện Gia Lâm đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo nhưng không thu giữ gì.
Tại kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐG, ngày 05/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Gia Lâm kết luận:
Một chiếc máy cưa xích màu cam nhãn hiệu Husqvarna 353, đã qua sử dụng, định giá: 3.600.000 đồng;
Một chiếc máy cưa điện màu xanh nhãn hiệu Makita 5012 B đã qua sử dụng, định giá 2.000.000 đồng;
Một chiếc xe đạp địa hình màu xanh đen nhãn hiệu ASAMA, đã qua sử dụng, định giá 2.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 94/CT-VKSGL, ngày 28/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Văn D khai nhận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện như đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Bị hại là anh Đào Công D vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: anh Đào Công D đã nhận được số tiền bị cáo bồi thường là 7.000.000 đồng và không có yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm trình bày luận tội, giữ nguyên nội dung Bản cáo trạng đã truy tố, trên cơ sở xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b,s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản. Đề nghị xử phạt bị cáo D từ 08 tháng đến 10 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.
Về vật chứng: không.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đến mức thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lâm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng và kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Khoảng 02 giờ 30, ngày 03/02/2021, tại Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội, Nguyễn Văn D lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản đã lén lút chiếm đoạt: một chiếc máy cưa xích màu cam nhãn hiệu Husqvarna 353 trị giá 3.600.000 đồng, một chiếc máy cưa điện màu xanh nhãn hiệu Makita 5012 B trị giá 2.000.000 đồng và một chiếc xe đạp địa hình màu xanh đen nhãn hiệu ASAMA trị giá 2.000.000 đồng của anh Đào Công D. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 7.600.000 đồng. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn D phạm “Tội trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 173, khoản 1 của Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm truy tố bị cáo Nguyễn Văn D là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
. Về hình phạt và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự an toàn xã hội.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng có nhân thân xấu. Nhân thân bị cáo có 02 tiền sự và 02 tiền án đều là tội trộm cắp tài sản tuy đã được xóa án tích nhưng thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo không lấy đó là bài học để tu dưỡng, rèn luyện trở thành người công dân có ích cho xã hội mà tiếp tục phạm tội. Điều này chứng tỏ bị cáo là đối tượng khó cải tạo, giáo dục nên cần phải có một mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng xét, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường toàn bộ giá trị tài sản cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, lấy đó làm căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm đề nghị áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có thu nhập và nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ số tiền bị cáo bồi thường là 7.000.000 đồng và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên HĐXX không xem xét giải quyết.
. Đối với chiếc xe máy bị cáo sử dụng đi trộm cắp tài sản, theo lời khai của bị cáo là xe máy nhãn hiệu Honda Wave & nhưng không nhớ biển số xe là của bị cáo mua của một người không quen biết với giá 3.000.000 đồng vào khoảng tháng 01/2021 nhưng bị cáo đã bán chiếc xe máy này với giá 1.000.000 đồng cho một người không quen biết để lấy tiền chi tiêu cá nhân nên cơ quan Công an không thu giữ được.
[8 ]. Về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo: bị cáo Nguyễn Văn D có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào các Điều: 331, 332, 333, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án:
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn D phạm Tội trộm cắp tài sản.
Xử phạt: Nguyễn Văn D 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về dân sự: đã giải quyết xong.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn D có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại – anh Đào Công D vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết đinh được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
| Nơi nhận: - Bị cáo - VKSND huyện Gia Lâm - Tòa án nhân dân TP. Hà Nội - Công an huyện Gia Lâm - Chi cục THADS huyện Gia Lâm - Sở tư pháp TP. Hà Nội - UBND Phúc Lợi, Q.Long, HN Biên (thay cho thông báo kết quả xét xử); - Lưu: hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hà Thu |