vanban.org

Bản án 113/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho cho chị Đặng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Lê C.

Về con chung: Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Lê C có 01 con chung là Nguyễn Lê N, sinh ngày 07/9/2015. Nay ly hôn giao cho anh Nguyễn Lê C nuôi dưỡng và giáo dục con chung Nguyễn Lê N, sinh ngày 07/9/2015 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dương nuôi con chung đối vớ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Hậu - Nguyễn Lê Cường tranh chấp Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho cho chị Đặng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Lê C.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2021/HNGĐ - ST
Ngày: 29 / 7/2021
"V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Đại

- Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Nhàn

Ông Hoàng Văn Hào

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nam - Chức vụ: Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 7 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 58 /2021/TLST-HNGĐ ngày 23 / 3/2021 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2021/TLST-HNGĐ ngày 03/6/2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Đặng Thị H, sinh năm 1997 Địa chỉ: xóm 10, xã L, huyện Y, tỉnh N. Vắng mặt

- Bị đơn: Anh Nguyễn Lê C, sinh năm 1992 Địa chỉ: xóm 1, xã N, huyện L, tỉnh N. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 19/ 3/2021 và tại bản tự khai của nguyên đơn chị Đặng Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Lê C lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Nam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An vào ngày 07/7/2015. Thời gian đầu vợ chồng sống tình cảm. Đến đầu năm 2017 bắt đầu xảy mâu thuẫn vợ chồng do quan điểm sống không phù hợp và ly thân từ đó đến nay. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng còn nữa, hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu được giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Lê C.

- Về quan hệ con chung: Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Lê C có 01 con chung Nguyễn Lê N, sinh ngày 07/9/2015. Nay ly hôn chị H đề nghị tiếp tục giao con chung cho anh C nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dương nuôi con chung cho chị H.

- Về quan hệ tài sản chung và các khoản nợ chung : Không có và chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Lê C, sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hoà giải hợp lệ cho anh C nhưng anh C đều vắng mặt không có lý do. Do đó tại hồ sơ vụ án không có bản tự khai và lời khai của anh C. Vụ án không tiến hành hoà giải được. Chị Hậu vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh C . Do vậy Toà án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đương sự theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương phát biểu ý kiến như sau:

+ Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý vụ án, thông báo thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác minh và thu thập chứng cứ, tổ chức hòa giải cũng như thời hạn giải quyết vụ án.

Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định về thành phần, nguyên tắc xét xử, trình tự tố tụng tại phiên tòa. Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự + Về nội dung: Sau khi phân tích các tình tiết của vụ án và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56, 81, 82,83,84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a, b khoản 2 điều 227, điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Lê C.

- Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Lê C nuôi dưỡng và giáo dục con chung Nguyễn Lê N, sinh ngày 07/9/2015 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Đặng Thị H

- Về quan hệ tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Không có và chị Đặng Thị H không yêu cầu nên miễn xét

- Về án phí: Chị Đặng Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định và các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình do nguyên đơn chị Đặng Thị H yêu cầu ly hôn với bị đơn Nguyễn Lê C có nơi cư trú tại xóm 1, xã Nam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Theo quy định khoản 1 Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho cả nguyên đơn và bị đơn. Tuy nhiên, bị đơn anh Nguyễn Lê C vắng mặt lần thứ hai tại phiên hòa giải và tại phiên tòa không có lý do và nguyên đơn chị H có đơn xin xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 288 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Lê C kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 07/7/2015 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh H, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn do về quan điểm sống, tình tình không phù hợp, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Chị H kiên quyết được xin ly hôn.

Theo công văn số 26/CV - UBND ngày 16/7/2021 của Ủy ban nhân dân xã N cung cấp: về nguyên nhân vợ chồng ly hôn là do cả hai không có công ăn việc làm ổn định, không quan tâm đến con chung và không cùng chung quan điểm sống, tình cảm không còn nên chị H xin được ly hôn

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh Nguyễn Lê C vắng mặt không có lý do, không chấp hành thông báo làm việc, mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ, điều này chứng tỏ anh C không thật sự có ý thức níu kéo hạnh phúc gia đình. Chị đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử vắng mặt. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh C không còn nữa, mâu thuẫn vợ chồng thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của chị H được ly hôn với anh C là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về quan hệ con chung: Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Lê C có 01 con chung là Nguyễn Lê N, sinh ngày 07/9/2015. Theo đơn ly hôn và bản tự khai của nguyên đơn chị H do hiện nay con chung đang ở với anh C và ông bà nội nên chị không yêu cẩu được trực tiếp nuôi con chung mà đồng ý giao cho anh C nuôi con chung và đề nghị hoãn nghia vụ cấp dưỡng nuôi con chung chung cho chị H.

Về điều kiện nuôi con chung theo ý kiến của Ủy ban nhân dân xã N: hiện nay con chung cháu Nguyễn Lê N, sinh ngày 07/9/2015, từ khi cháu chưa đầy 02 tháng tuổi đến nay cháu ở với ông bà nội ,được ông bà nội chăm sóc nuôi dưỡng, thực tế chị H không chăm sóc con chung từ bé đến nay, hiện nay anh C đang sống chung với cha mẹ đẻ. Do vậy cần giao con chung cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng thì tốt hơn. Và xét nguyện vọng của chị H không có tranh chấp nuôi con chung cho nên cần giao cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục con chung là phù hợp vừa đảm bảo quyền lợi cho con chung. Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung do chị H hiện tại chưa có việc làm thu nhập ổn định và anh C cũng chưa có yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H.

- Về quan hệ tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Không có và chị Hậu không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

. Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; ®iÓm a kho¶n 5 §iÒu 27 NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña ñy ban Th êng vô Quèc Héi quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n, buộc chị Đặng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào §iÒu 55, 56, 81, 82, 83 vµ §iÒu 84 LuËt H«n nh©n vµ gia ®×nh n¨m 2014; khoản 1 Điều 28, 35, 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; ®iÓm a kho¶n 5 §iÒu 27 NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña ñy ban Th êng vô Quèc Héi quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n, tuyªn xö:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho cho chị Đặng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Lê C.

2. Về con chung: Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Lê C có 01 con chung là Nguyễn Lê N, sinh ngày 07/9/2015. Nay ly hôn giao cho anh Nguyễn Lê C nuôi dưỡng và giáo dục con chung Nguyễn Lê N, sinh ngày 07/9/2015 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dương nuôi con chung đối với chị Đặng Thị H cho đến khi có yêu cầu.

Chị Đặng Thị H có quyÒn th¨m nom con chung mµ kh«ng ai ® îc c¶n trở.

Vì lợi ích của con chung các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

3. Về quan hệ tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Không có yêu cầu nên mễn xét.

4. Về án phí: Buộc chị Đặng Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo biên lai số 0005727 ngày 25/5/2021. Chị Đặng Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ