vanban.org

Bản án 113/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 10/11/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/11/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn Đ, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã HTr, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Tuan D "Co y gay thuong tich" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn Đ, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2020/HS-PT
Ngày: 10 - 11 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Bỉnh

- Các Thẩm phán:

Ông Đặng Ngọc Bình

Ông Nguyễn Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Trang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khanh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 154/2020/TLPT-HS ngày 13 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Tuấn Đ; do có kháng cáo của bị cáo Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2020/HS-ST ngày 10/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện DL.

Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Tuấn Đ, sinh năm 1990 tại Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn 1, xã HTr, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ư và bà Trần Thị M; vợ Nguyễn Thị T và có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Trong vụ án này còn có bị hại không kháng cáo; không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ, ngày 02-02-2020 bị cáo Nguyễn Tuấn Đ cùng anh Nguyễn Văn B và anh Nguyễn Văn N cùng trú tại thôn 1, xã HTr đi kéo ống tưới cà phê tại vườn bị cáo Đ ở thôn 9, xã HTr, huyện DL. Lúc này anh Bùi Thanh D trú tại thôn 9, xã HTr điều khiển xe mô tô đi ngang qua vườn bị cáo. Do anh Bùi Thanh D đi ngang qua vườn cà phê nhà mình nên bị cáo nhớ lại mâu thuẫn trước đây nên có xảy ra mâu thuẫn cãi vã qua lại với anh D. Anh Bùi Thanh D điều khiển xe tiếp tục chạy, bị cáo chạy theo lối tắt đi xuống chòi cạnh vườn của mình và lấy 01 tuýp sắt dạng ống tròn, dài khoảng 110cm, đường kính từ 03-04 cm chặn anh D lại và đánh anh D nhiều cái vào vùng tay trái gây thương tích. Anh Bùi Thanh D được người nhà đưa đi chữa trị thương tích tại bệnh việc II Lâm Đồng từ ngày 02-02-2020 đến ngày 07-02-2020 thì xuất viện.

Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện DL bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Theo kết luận giám định pháp y về thương tích số 23/2020/TgT ngày 16-3-2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận: Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định cùa Bùi Thanh D là 13%, tổn thương do vật tày tác động trực tiếp.

Về vật chứng: Sau khi gây án bị cáo đã vứt bỏ hung khí nên không thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại anh Bùi Thanh D số tiền 60.000.000đ, bị hại anh D đã có đơn xin bãi nại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 22-7-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện DL đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn Đ về tội “ Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại bản án số 49/2020/HS-ST ngày 10/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện DL đã xử;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn Đ 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.

* Ngày 16/9/2020 bị cáo Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa hôm nay,

Bị cáo giữ nguyên kháng cáo, xin hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến: đề nghị áp dụng Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Căn cứ lời khai của bị cáo; biên bản thu giữ tang vật và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Do có mâu thuẫn từ trước nên vào khoảng 09 giờ ngày 02-02-2020 tại thôn 9, xã HTr, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo có hành vi dùng cây tuýp sắt là hung khí nguy hiểm đánh gây thương tích cho anh Bùi Thanh D với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Tuấn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong hạn luật định nên được xem xét.

Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để tuyên phạt bị cáo 15 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, có phần nghiêm khắc. Qua xem xét thấy rằng, bị cáo phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị hại cũng có phần lỗi và có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

Về án phí: bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn Đ, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn Đ 15 (Mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (10/11/2020).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã HTr, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ