- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tainf sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo Lê Đức A.;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI _________________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 113/2019/HSST Ngày: 21/6/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa:
- Bà Nguyễn Thị Lan Anh
- Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thị Xuân Hường
- Ông Lý Anh Tuấn
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phan Lạc Mạnh - Cán bộ Toà án nhân dân Quận Thanh Xuân.
- Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Thủy - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 21 tháng 6 năm 2019 tại Toà án nhân dân Quận Thanh Xuân xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 84 /2019/HSST ngày 06 tháng 5 năm 2019 đối với các bị cáo:
1.
Họ và tên: Lê Đức A.; SN: 1978; ĐKHKTT: P103, B4, tập thể Tr., phường Tr., Đống Đa, Hà Nội; Chỗ ở: P103, B4, tập thể Tr., phường Tr., Đống Đa, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông: Lê Văn T. (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Th. (SN 1949); Có 01 con (SN 2017); Tiền án, tiền sự: 02 Tiền án (đã xóa án tích), 08 tiền sự (đã hết thời hiệu); Ngày 15/1/1999, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (tài sản trộm cắp trị giá 500.000đ); Ngày 11/1/2000, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân” (tài sản chiếm đoạt trị giá 300.000đ); Tạm giữ ngày 20/2/2019; Hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 28/2/2019; Bị can hiện đang tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
2. Họ và tên: Phạm Xuân L.; SN: 1989; ĐKHKTT: Số 3D, ngõ 105, phố B., phường Th., Hai Bà Trưng, Hà Nội; Chỗ ở: không nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không Trình độ học vấn: 6/12; Con ông: Phạm Xuân Lộc (SN 1971) Con bà: Trần Thị Bích Ng. (SN 1972); Vợ: Vũ Quỳnh A. (SN 1987, đã ly hôn); Có 01 con (SN 2016); Tiền án, tiền sự: 01 tiền sự (đã hết thời hiệu); Tạm giữ ngày 20/2/2019; Tạm giam ngày 01/3/2019; Bị can hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2 - CATP Hà Nội.
- Người bị hại: Anh Mai Phúc V.; Sinh năm: 1993; ĐKHKTT: Tổ 2 khu 1, phường Vàng Danh, Tp Uông Bí, Quảng Ninh; Nơi ở: Số 92 Ngõ Giáp Nhất, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn M., Sinh năm: 1950; Trú tại: P. 108 Tập thể Bưu điện Hoàng Cầu, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Các bị cáo bị Viện kiểm sát Quận Thanh Xuân truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Trần Phương H. là bạn xã hội của Lê Đức A.. Ngày 18/2/2019, H. gọi điện cho Đức A. nói gần chân cầu thang tầng 1 trong khu trọ của H. tại số 92, ngõ 213 Giáp Nhất, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội có dựng chiếc xe máy Honda Wave S màu đỏ-xám, BKS: 14S1-9972 của anh Mai Phúc V. không sử dụng đến, không có người trông giữ và bảo Đức A. đến trộm cắp chiếc xe máy trên. Đức A. đồng ý. Khoảng trưa ngày 19/2/2019, Đức A. gọi điện cho Phạm Xuân L. rủ L. đi trộm cắp chiếc xe máy trên và bảo chuẩn bị dụng cụ để phá khóa xe máy. L. đồng ý. Khoảng 17 giờ cùng ngày, L. đi đến khu vực “chợ Trời”, phố Huế, Hai Bà Trưng, Hà Nội mua 01 cờ lê bằng kim loại màu bạc, có chữ “YETI USA Standard”, 01 thanh kim loại hình trụ lục giác dài 8cm, một đầu nhọn 4 cạnh, 02 ống kim loại hình trụ dài 2cm của 01 người phụ nữ (hiện không xác định được). Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 20/2/2019, Đức A. điều khiển 01 xe máy FANLIM, kiểu dáng Honda Dream, màu nâu, BKS 36K3-4957 đến đón L. tại phố Bạch Mai. Khi gặp Đức A., L. có treo 01 túi vải màu nâu bên trong có 01 cờ lê bằng kim loại màu bạc, có chữ “YETI USA Standard”, 01 thanh kim loại hình trụ lục giác dài 8cm, một đầu nhọn 4 cạnh, 02 ống kim loại hình trụ dài 2cm vào xe máy của Đức A.. Sau đó, L. chở Đức A. đến nhà trọ của H. tại số 92 ngõ 213 Giáp Nhất, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, L. gọi điện cho H. xuống mở cửa. Một lúc sau, có 01 người phụ nữ tên Nga (bạn của H., hiện không xác định) xuống mở cửa cổng, L. và Đức A. lên phòng trọ của H. tại tầng 4. Tại đây, H. chỉ cho Đức A. và L. vị trí dựng chiếc xe máy Honda Wave S màu đỏ-xám, BKS: 14S1-9972. Sau đó, Đức A. và L. đi xuống tầng 1, L. kiểm tra phát hiện chiếc xe trên không khóa cổ khóa càng. Đức A. dắt xe máy Honda Wave S màu đỏ-xám, BKS: 14S1-9972 ra cửa và ngồi lên chiếc xe máy trên còn L. điều khiển xe máy FANLIM, kiểu dáng Honda Dream, màu nâu, BKS 36K3-4957 đẩy phía sau. Khi L., Đức A. đi đến khu vực gần đình Giáp Nhất thì bị tổ công tác công an phường Nhân Chính kiểm tra, phát hiện, bắt giữ. Tổ công tác đã đưa L., Đức A. cùng toàn bộ tang vật về trụ sở.
Sau khi bị mất trộm tài sản, anh Mai Phúc V. đã đến cơ quan công an để trình báo.
Cơ quan công an thu giữ của Lê Đức A.:
- 01 điện thoại di động Nokia, RM-1110, màu đen, bên trong lắp sim số thuê bao 0969604531 và 0977360239.
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave S, màu đỏ-xám, BKS 14S1-9972, SK: RLHJC431XBY090219, SM: JC43E1637506.
Cơ quan công an thu giữ của Phạm Xuân L.:
- 01 cờ lê bằng kim loại màu bạc, có chữ “YETI USA Standard”.
- 01 thanh kim loại hình trụ lục giác dài 8cm, một đầu nhọn 4 cạnh.
- 02 ống kim loại hình trụ dài 2cm.
- 01 ĐTDĐ Nokia, màu đen, số serial: 357328087525857, lắp 01 sim số 0979017443.
- 01 túi vải màu nâu.
- 01 xe máy nhãn hiệu FANLIM, kiểu dáng Honda Dream, màu nâu, BKS 36K3-4957, SM: 01301417, SK: 11301417.
Tại cơ quan điều tra, Lê Đức A., Phạm Xuân L. đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 60/KLĐG ngày 12/3/2019 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận Thanh Xuân kết luận :
01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave S, màu đỏ-xám, BKS 14S1-9972, SK: RLHJC431XBY090219, SM: JC43E1637506 trị giá 7.000.000đ.
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu FANLIM, kiểu dáng Honda Dream, màu nâu, BKS 36K3-4957, qua điều tra xác định chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn M.. Ngày 19/2/2019, ông M. cho Lê Đức A. mượn chiếc xe máy trên. Về ý thức chủ quan, ông M. không biết Đức A. sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Ông M. đề nghị xin lại chiếc xe trên.
Đối với 01 điện thoại di động Nokia, RM-1110, màu đen, bên trong lắp sim số thuê bao 0969604531 và 0977360239, qua điều tra xác định là tài sản của Lê Đức A. sử dụng chiếc điện thoại trên để liên lạc trộm cắp tài sản với Phạm Xuân L., Trần Phương H. nhằm trộm cắp tài sản.
Đối với 01 ĐTDĐ Nokia, màu đen, số serial: 357328087525857, lắp 01 sim số 0979017443, qua điều tra xác định là tài sản của Phạm Xuân L. sử dụng để liên lạc với Lê Đức A..
Đối với Trần Phương H. hiện vắng mặt tại nơi cư trú và đối tượng Nga (hiện chưa xác định được nhân thân). Do vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Thanh Xuân đã ra quyết định tách hồ sơ tài liệu để điều tra xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 74/CT-VKS ngày 04/5/2019 Viện Kiểm sát nhân dân Quận Thanh Xuân đã truy tố Lê Đức A. và Phạm Xuân L. phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.
Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo: Lê Đức A. từ 12-15 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo Phạm Xuân L. từ 10-14 tháng tù.
Vì các bị cáo không có việc làm nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại anh Mai Phúc V. 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave S, màu đỏ-xám, BKS 14S1-9972, SK: RLHJC431XBY090219, SM: JC43E1637506
Trả lại ông Nguyễn Văn M.: 01 xe máy nhãn hiệu FANLIM, kiểu dáng Honda Dream, màu nâu, BKS 36K3-4957, SM: 01301417, SK: 11301417.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 cờ lê bằng kim loại màu bạc, có chữ “YETI USA Standard”; 01 thanh kim loại hình trụ lục giác dài 8cm, một đầu nhọn 4 cạnh; 02 ống kim loại hình trụ dài 2cm; 01 túi vải màu nâu.
- Tịch thu sung công: điện thoại thu giữ của bị cáo L. và Đức A..
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi hoặc quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận các bị cáo khai nhận:
Lê Đức A. quen Trần Phương H. là bạn xã hội trọ tại phòng số 92 ngõ 213 Giáp Nhất, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội. Ngày 18/2/2019, H. có gọi điện cho Đức A. tại khu trọ của mình có 01 chiếc xe máy Honda Wave S màu đỏ - xám BKS: 14 S1 - 9972 của anh Mai Phúc V. không dùng đến không có ai trông giữ và bảo Đức A. đến trộm cắp chiếc xe máy trên. Đức A. đồng ý, khoảng trưa ngày 19/2/2019 Đức A. rủ Phạm Xuân L. đi trộm cắp L. đồng ý và đến chợ trời mua cờ lê... Đến 01h30 phút ngày 20/2/2019, L. và Đức A. chở nhau bằng xe máy FANLIM đến khu trọ của H., tại đây bạn của H. (không xác định danh tính) mở cửa cho L. và Đức A. vào khu trọ. H. đã xuống và chỉ cho L. và Đức A. vị trí chiếc xe, L. và Đức A. đã trộm cắp chiếc xe trên và ra khỏi khu trọ đến đình Giáp Nhất thì bị Công an phường Nhân Chính bắt giữ.
Các bị cáo nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, tang vật thu giữ của vụ án xác định tài sản mà Phạm Xuân L. và Lê Đức A. trộm cắp là 01 xe máy Honda Wave S, màu đỏ-xám, BKS 14S1-9972, SK: RLHJC431XBY090219, SM: JC43E1637506 trị giá 7.000.000 đồng như vậy đó đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Phạm Xuân L. và Lê Đức A. phạm tội “trộm cắp tài sản”; tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đây là vụ án có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp giản đơn. Lê Đức A. là người khởi xướng nhưng Phạm Xuân L. là người trực tiếp đi mua công cụ phương tiện phạm tội và cùng thực hiện tội phạm; Vai trò của các bị cáo trong vụ án là như nhau.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được luật pháp bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an cho xã hội. Chỉ vì không làm chủ được bản thân trước sự cám dỗ của vật chất các bị cáo đã lợi dụng sơ hở của người bị hại để trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu sài. Trong khi thực hiện tội phạm các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo lại là thanh niên có sức khoẻ có trình độ hiểu biết không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân để trở thành người lương thiện mà thích hưởng lợi bằng con đường bất chính. Về nhân nhân, mặc dù bị cáo Đức A. có 02 tiền án được xóa án tích, bị cáo L. có 01 tiền sự cũng đã hết thời hiệu nhưng chứng tỏ các bị cáo không có ý thức trong việc tu dưỡng rèn luyện bản thân. Vì vậy phải có hình phạt thích hợp cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi lượng hình hội đồng xét xử xem xét hai bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo L. phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng để hội đồng xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo không có công ăn việc làm nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về tang vật:
*Trả lại anh Mai Phúc V.:
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave S, màu đỏ-xám, BKS 14S1-9972, SK: RLHJC431XBY090219, SM: JC43E1637506.
*Trả lại ông Nguyễn Văn M.:
- 01 xe máy nhãn hiệu FANLIM, kiểu dáng Honda Dream, màu nâu, BKS 36K3-4957, SM: 01301417, SK: 11301417.
* Tịch thu tiêu hủy:
- 01 cờ lê bằng kim loại màu bạc, có chữ “YETI USA Standard”.
- 01 thanh kim loại hình trụ lục giác dài 8cm, một đầu nhọn 4 cạnh.
- 02 ống kim loại hình trụ dài 2cm.
- 01 túi vải màu nâu.
*Tịch thu sung công:
- 01 điện thoại di động Nokia, RM-1110, màu đen, bên trong lắp sim số thuê bao 0969604531 và 0977360239 của Lê Đức A..
- 01 ĐTDĐ Nokia, màu đen, số serial: 357328087525857, lắp 01 sim số 0979017443 của Phạm Xuân L..
Các bị cáo phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đối với Trần Phương H. hiện vắng mặt tại nơi cư trú và đối tượng Nga (hiện chưa xác định được nhân thân. Do vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Thanh Xuân đã ra quyết định tách hồ sơ tài liệu để điều tra xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo Lê Đức A.;
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Bộ luật hình sự 2015 bị cáo và Phạm Xuân L.;
Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; 135; 331; 333; 336 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với hai bị cáo;
Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức A. và bị cáo Phạm Xuân L. phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt:
- Bị cáo Lê Đức A. 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20/2/2019 đến ngày 28/2/2019.
- Bị cáo Phạm Xuân L. 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/2/2019.
Về tang vật:
*Trả lại anh Mai Phúc V.: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave S, màu đỏ-xám, BKS 14S1-9972, SK: RLHJC431XBY090219, SM: JC43E1637506.
*Trả lại ông Nguyễn Văn M.: 01 xe máy nhãn hiệu FANLIM, kiểu dáng Honda Dream, màu nâu, BKS 36K3-4957, SM: 01301417, SK: 11301417.
* Tịch thu tiêu hủy:
- 01 cờ lê bằng kim loại màu bạc, có chữ “YETI USA Standard”.
- 01 thanh kim loại hình trụ lục giác dài 8cm, một đầu nhọn 4 cạnh.
- 02 ống kim loại hình trụ dài 2cm.
- 01 túi vải màu nâu.
*Tịch thu sung công:
- 01 điện thoại di động Nokia, RM-1110, màu đen, bên trong lắp sim số thuê bao 0969604531 và 0977360239 của Lê Đức A.
- 01 ĐTDĐ Nokia, màu đen, số serial: 357328087525857, lắp 01 sim số 0979017443 của Phạm Xuân L..
Tang vật trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/6/2019.
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
| Nơi nhận: - TAND T.p Hà Nội; - VKSND Q. Thanh Xuân; - Công an Q. Thanh Xuân; - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - Chi cục THADS Q. Thanh Xuân; - Sở tư pháp T.p Hà Nội; - Lưu hồ sơ + Vp. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Lan Anh |