vanban.org

Bản án 113/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 26/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc H phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc H 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; đƣợc khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/9/2016 đến ngày 26/9/2016. Tiếp tục áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú số 07/2019/HSST-LCĐKNCC ngày 15/3/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, kể từ khi tu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Ngọc H - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc H phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số 113/2019/HS-ST
Ngày 26-4-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chí Tâm;

2. Bà Nguyễn Hồng Gấm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2019/HSST ngày 15 tháng 3 năm 2019 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 119/2019/HSST-QĐ ngày 12 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Vũ Ngọc H (tên gọi khác M), sinh năm 1998 tại tỉnh Cà Mau; thƣờng trú: 10/8 khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; cha Vũ Văn V, sinh năm 1968 (đã chết) và mẹ Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1980; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 17/9/2016; ngày 26/9/2016 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú; bị cáo bỏ trốn; ngày 11/12/2018 bị cáo đầu thú, bị cáo tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại:

1. Anh Phạm Minh S, sinh năm 1995; thƣờng trú: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

2. Anh Trần Tuấn K, sinh năm 1993; thƣờng trú: Ấp 4, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; vắng mặt.

3. Anh Lê Hoài N, sinh năm 1994; thƣờng trú: Thôn 2, xã B, huyện T, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt.

4. Anh Lê Hoàng K, sinh năm 1998; thƣờng trú: Ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Chị Trần Lệ Đ (tên gọi khác T), sinh năm 1972; thƣờng trú: Số 78/388 khóm 7, Phƣờng 3, thành phố B, tỉnh B, chỗ ở: Khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng; vắng mặt.

2. Anh Dƣơng Thanh B, sinh năm 1980; thƣờng trú: Số 128A tổ 8, khu phố B, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng; chỗ ở: Khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng; vắng mặt.

3. Anh Trần Quốc B, sinh năm 1986 - Chủ hộ kinh doanh Internet Sinh viên; thƣờng trú: Số 6/1 khu phố H, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng; vắng mặt.

4. Anh Phạm Văn K, sinh năm 1982; thƣờng trú: Khu phố C, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định; chỗ ở: Số 126/1A khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng; vắng mặt.

5. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988; thƣờng trú: Số 14/15 khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng; vắng mặt.

6. Chị Trƣơng Kim T, sinh năm 1981; thƣờng trú: Tổ 4, khu phố T, phƣờng T, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng; vắng mặt.

7. Anh Trần Thanh P, sinh năm 1974; thƣờng trú: Ấp H, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An; chỗ ở: Ấp 5, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An; vắng mặt.

8. Anh Phạm Tiến S, sinh năm 1984; thƣờng trú: Tổ 10, khu phố H, phƣờng H, thị xã B, tỉnh Bình Phƣớc; vắng mặt.

9. Bà Trần Thị H, sinh năm 1957; thƣờng trú: Ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dƣơng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Lê Công L, Vũ Ngọc H, Nguyễn Đăng K quen biết nhau, không có nghề nghiệp ổn định. Do không có tiền tiêu xài, Lê Công L rủ Vũ Ngọc H lên mạng chơi game Liên Minh Huyền Thoại chủ động làm quen với ngƣời khác, sau đó rủ đến thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng cùng nhau ăn uống rồi lợi dụng sự tin tƣởng của họ để chiếm đoạt tài sản.

Vụ thứ nhất: Khoảng 13 giờ ngày 13/8/2016, Vũ Ngọc H rủ Phạm Minh S đến quán T, Quốc lộ 1K, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng để ăn uống. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Vũ Ngọc H giả vờ mƣợn xe mô tô nhãn hiệu Watasi, màu xanh đen biển số 61L2-2866 và điện thoại di động Apple Iphone 5C của Phạm Minh S để gọi cho bạn và đón bạn đến quán Tƣ Đúp ăn uống. Phạm Minh S giao xe mô tô và điện thoại. Tại quán, Lê Công L điện thoại cho Nguyễn Đăng K kêu đến quán T giả vờ hỏi mƣợn tiền để Lê Công L có cơ hội ra ngoài chạy thoát. Vũ Ngọc H điều khiển xe mô tô biển số 61L2-2866 chạy về phòng trọ chở Nguyễn Đăng K quay lại, dừng xe trƣớc quán T. Nguyễn Đăng K vào quán giả vờ kêu Lê Công L ra ngoài cổng nói chuyện rồi cả hai ngồi lên xe mô tô để Vũ Ngọc H chở chạy thoát. Đến khoảng 05 giờ ngày 14/8/2016, Nguyễn Đăng K điều khiển xe mô tô chạy trên đƣờng thì bị công an phƣờng Bình Thắng kiểm tra tạm giữ xe mô tô, còn điện thoại di động Apple Iphone 5C thì Vũ Ngọc H đem đến tiệm cầm đồ Bảo Apple tại số 6/1 khu phố H, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng cầm cho Trần Quốc B với giá 1.000.000 đồng, số tiền này Vũ Ngọc H, Lê Công L đã tiêu xài hết.

Đến ngày 02/9/2016, Vũ Ngọc H đƣa giấy cầm điện thoại Apple Iphone 5C cho Dƣơng Thanh B, Trần Lệ Đ đến tiệm cầm đố Bảo lấy về sử dụng. Dƣơng Thanh B, Trần Lệ Đ không biết tài sản này là do ngƣời khác phạm tội mà có.

Vụ thứ hai: Khoảng 11 giờ ngày 05/9/2016, Vũ Ngọc H rủ Trần Tuấn K đến quán karaoke N thuộc Quốc lộ 1K, khu phố Đ, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng để ăn uống. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Vũ Ngọc H giả vờ hỏi mƣợn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đỏ cam biển số 62Y1-3599 và điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen của Trần Tuấn K để gọi cho bạn và đi đón bạn. Vũ Ngọc H chạy xe mô tô biển số 62Y1-3599 đến tiệm Internet 99 thuộc khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng để chơi game, sau đó đem xe mô tô biển số 62Y1-3599 đi bán đƣợc số tiền 550.000 đồng. Số tiền này, Vũ Ngọc H, Lê Công L đã tiêu xài hết. Đến ngày 11/9/2016, Vũ Ngọc H đem điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen đến tiệm cầm đồ K tại số 216/1A khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng cầm cho Phạm Văn K với giá 100.000 đồng.

Vụ thứ ba: Khoảng 11 giờ ngày 10/9/2016, Vũ Ngọc H rủ Lê Hoài N đến quán Dê 68 thuộc khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng để ăn uống. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Vũ Ngọc H giả vờ mƣợn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen biển số 86B7-147.12 và điện thoại di động hiệu Forme D910 của Lê Hoài N để gọi điện cho bạn và đón bạn đến quán Dê 68. Vũ Ngọc H điều khiển xe mô tô biển số 86B7-147.12 chạy đi khoảng 15 phút quay lại chở Lê Công L chạy thoát. Cả hai đem xe mô tô biển số 86B7-147.12 đi bán đƣợc số tiền 1.000.000 đồng, điện thoại di động hiệu Forme D910 thì H dùng để sử dụng liên lạc.

Vụ thứ tƣ: Khoảng 19 giờ ngày 12/9/2016, Vũ Ngọc H rủ Lê Hoàng K đến quán G thuộc khu phố B, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng để ăn uống. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Lê Công L giả vờ mƣợn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu xanh biển số 93P1-335.69 của Lê Hoàng K để đi đón bạn đến ăn uống cùng. Sau đó, Lê Công L điều khiển xe mô tô biển số 93P1-335.69 chạy đi khoảng 15 phút quay lại đứng gần trƣớc cổng quán G, gọi điện cho Vũ Ngọc H chạy ra ngoài tẩu thoát. Đến ngày 16/92016, Lê Công L điều khiển xe mô tô biển số 93P1-335.69 chạy đến quán cà phê (chƣa rõ tên) thuộc phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng ngồi uống cà phê nhƣng do không có tiền trả nên để lại xe. Chiều cùng ngày, công an phƣờng Bình An nhận tin báo của ngƣời dân báo có 01 xe mô tô biển số 93P1-335.69 không có ngƣời trông coi nên đến lập biên bản tạm giữ.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Watasi màu xanh đen biển số 61L2-2866; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu xanh biển số 93P1-335.69; 01 điện thoại di động Apple Iphone 5C màu xanh; 01 điện thoại di động Forme D810 màu đen; 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen.

Theo biên bản kết luận định giá số 211/BB.ĐG ngày 26/9/2016 có Hội đồng định giá thị xã Dĩ An xác định: Xe mô tô nhãn hiệu Watasi màu xanh đen biển số 61L2-2866 trị giá 3.500.000 đồng; xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Repsol màu xanh đỏ cam biển số 62Y1-3599, trị giá 8.000.000 đồng; xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen biển số 86B7-147.12, trị giá 10.000.000 đồng; xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu xanh biển số 93P1-335.69, trị giá 11.000.000 đồng; điện thoại di động Apple Iphone 5C màu xanh, trị giá 2.500.000 đồng; điện thoại di động Forme D810 màu đen, trị giá 400.000 đồng; điện thoại di động Nokia 105 màu đen trị giá 200.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 35.600.000 đồng.

Căn cứ bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 0862/ĐT/2016 ngày 30/9/2016 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đồng Nai kết luận: Độ tuổi của Vũ Ngọc H là 19 tuổi (+/- 06 tháng) kể từ ngày giám định 29/9/2016.

Đối với Vũ Ngọc H sau khi đƣợc tại ngoại đã bỏ trốn. Ngày 01/12/2016, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra quyết định truy nã đối với Vũ Ngọc H. Ngày 11/12/2018 Vũ Ngọc H đến Công an thị xã Dĩ An đầu thú.

Đối với Lê Công L và Nguyễn Đăng K đã bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An đƣa ra xét xử tại bản án 73/2017/HSST ngày 23/3/2017 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đối với số tiền 1.100.000 đồng, Vũ Ngọc H và Lê Công L cầm điện thoại của anh Trần Quốc B và anh Phạm Văn K. Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An đã buộc Lê Công L phải nộp sung vào ngân sách Nhà nƣớc.

Đối với hành vi của Dƣơng Thanh B, Trần Lệ Đ chƣa đủ căn cứ xử lý hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không xử lý.

Đối với Trần Quốc B đã cầm điện thoại di động hiệu Apple Iphone 5C và Phạm Văn K đã cầm điện thoại di động Nokia 105 của Lê Công L, Vũ Ngọc H nhƣng không biết tài sản trên do phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không xử lý.

Tại cáo trạng số 99/QĐ - KSĐT ngày 14 tháng 3 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Vũ Ngọc H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 139; điểm p khoản 1 điều 46; điểm g, n khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 để xử phạt bị cáo Vũ Ngọc H mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự, vật chứng: Đã đƣợc giải quyết tại bản án hình sự sơ thẩm số 73/2017/HSST ngày 23/3/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận, đối đáp gì về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Vũ Ngọc H cùng đồng phạm đã thực hiền hành vi phạm tội nhƣ sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 15 giờ ngày 13/8/2016, tại quán T, Quốc lộ 1K, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, Vũ Ngọc H giả vờ mƣợn xe mô tô nhãn hiệu Watasi, màu xanh đen biển số 61L2-2866 và điện thoại di động Apple Iphone 5C của Phạm Minh S để điện thoại cho bạn và đón bạn đến quán T ăn uống. Vũ Ngọc H điều khiển xe mô tô biển số 61L2-2866 chạy về phòng trọ chở Nguyễn Đăng K quay lại, dừng xe trƣớc quán T. Nguyễn Đăng K vào quán giả vờ kêu Lê Công L ra ngoài cổng nói chuyện rồi cả hai ngồi lên xe mô tô để Vũ Ngọc H chở chạy thoát. Đến khoảng 05 giờ ngày 14/8/2016, Nguyễn Đăng K điều khiển xe mô tô chạy trên đƣờng thì bị công an phƣờng Bình Thắng kiểm tra tạm giữ xe mô tô, còn điện thoại di động Apple Iphone 5C thì Vũ Ngọc H đem đến tiệm cầm đồ Bảo Apple tại số 6/1 khu phố H, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng cầm cho Trần Quốc B với giá 1.000.000 đồng. Số tiền này Vũ Ngọc H, Lê Công L đã tiêu xài hết.

Đến ngày 02/9/2016, Vũ Ngọc H đƣa giấy cầm điện thoại Apple Iphone 5C cho Dƣơng Thanh B, Trần Lệ Đ đến tiệm cầm đồ Bảo lấy về sử dụng.

Vụ thứ hai: Khoảng 14 giờ ngày 05/9/2016, tại quán karaoke N thuộc Quốc lộ 1K, khu phố Đ, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng để ăn uống, Vũ Ngọc H giả vờ hỏi mƣợn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đỏ cam biển số 62Y1-3599 và điện thoại di động hiệu Nikia 105 màu đen của Trần Tuấn K để gọi cho bạn và đi đón bạn. Vũ Ngọc H chạy xe mô tô biển số 62Y1-3599 đến tiệm Internet 99 thuộc khu phố Đ, phƣờng T, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng để chơi game, sau đó đem xe mô tô biển số 62Y1-3599 đi bán đƣợc số tiền 550.000 đồng. Số tiền này, Vũ Ngọc H, Lê Công L đã tiêu xài hết. Đến ngày 11/9/2016, Vũ Ngọc H mang điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen đến tiệm cầm đồ K tại số 216/1A khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng cầm cho Phạm Văn K với giá 100.000 đồng.

Vụ thứ ba: Khoảng 12 giờ ngày 10/9/2016, tại quán Dê 68 thuộc khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, Vũ Ngọc H giả vờ mƣợn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen biển số 86B7-147.12 và điện thoại di động hiệu Forme D910 của Lê Hoài N để gọi điện cho bạn và đón bạn. Vũ Ngọc H điều khiển xe mô tô biển số 86B7-147.12 chạy đi khoảng 15 phút quay lại chở Lê Công L chạy thoát. Cả hai đem xe mô tô biển số 86B7-147.12 đi bán đƣợc số tiền 1.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Forme D910 thì H dùng để sử dụng liên lạc.

Vụ thứ tƣ: Khoảng 21 giờ ngày 12/9/2016, tại quán Góc Phố thuộc khu phố B, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, Lê Công L giả vờ mƣợn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu xanh biển số 93P1-335.69 của Lê Hoàng K để đi đón bạn đến ăn uống cùng. Lê Công L điều khiển xe mô tô biển số 93P1-335.69 chạy đi khoảng 15 phút quay lại đứng gần trƣớc cổng quán G, gọi điện cho Vũ Ngọc H chạy ra ngoài tẩu thoát. Đến ngày 16/9/2016, Lê Công L điều khiển xe mô tô biển số 93P1-335.69 chạy đến quán cà phê (chƣa rõ tên) thuộc phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng ngồi uống cà phê nhƣng do không có tiền trả nên để lại xe.

Theo quy định tại Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Hành vi của bị cáo Vũ Ngọc H cùng đồng phạm bằng thủ đọan gian dối giả vờ mƣợn tại sản của các bị hại tổng giá trị 35.600.000đồng sau đó chiếm đoạt đã đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cáo trạng số 99/QĐ - KSĐT ngày 14 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo về Tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của ngƣời bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời đã thành niên nhận thức rõ hành vi gián dối chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vì tham lam tƣ lợi đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Vai trò của bị cáo: Bị cáo Vũ Ngọc H là ngƣời trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội và đem tài sản đi tiêu thụ.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần và bị cáo xúi dục Nguyễn Đăng K (chƣa đủ 18 tuổi) phạm tội thuộc trƣờng hợp xúi dục ngƣời chƣa thành niên phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, n khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời lao động nghề nghiệp buôn bán, chƣa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, bị cáo đã bỏ trốn, gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng.

Về trách nhiệm dân sự, vật chứng: Đã đƣợc giải quyết tại bản án hình sự sơ thẩm số 73/2017/HSST ngày 23/3/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung. Cần thiết, tiếp tục áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú số 07/2019/HSST-LCĐKNCC ngày 15/3/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, kể từ khi tuyên án cho đến khi Vũ Ngọc H đi chấp hành án phạt tù.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Tại cơ quan điều tra, bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc H phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 139; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; điểm g, n khoản 1 Điều 48; Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc H 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; đƣợc khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/9/2016 đến ngày 26/9/2016.

Tiếp tục áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú số 07/2019/HSST-LCĐKNCC ngày 15/3/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, kể từ khi tuyên án cho đến khi Vũ Ngọc H đi chấp hành án phạt tù.

2. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ