vanban.org

Bản án 113/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 21/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cà Văn T ph m t i Mua bán trái phép chất ma tuý; các bị cáo Lò Văn B, Lò Văn D ph m t i Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp d ng khoản 1 Điều 251 B luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 B luật hình sự. Xử ph t: Cà Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù t nh từ ngày t m giữ, t m giam ngày (29/4/2018). Áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 B luật hình sự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ca Van T va DP - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cà Văn T ph m t i Mua bán trái phép chất ma tuý; các bị cáo Lò Văn B, Lò Văn D ph m t i Tàng trữ trái phép chất ma túy.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN S

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 113/2018/HS-ST
Ngày: 21-8 -2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH SƠN LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vì Văn Đôi, bà Cầm Thị Tươi.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung, thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện S tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2018, t i Tr s Toà án nhân dân huyện S, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số 120/2018/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định xét xử số: 124/2018/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2018 đối với các bị cáo sau đây:

1. Họ và tên: Cà Văn T, sinh ngày 05/02/2000; nơi ĐKHKTT: Bản C, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; dân t c: Thái; tôn giáo: Không; Ch c v , đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Học sinh; trình đ văn hóa: 12/12; con ông: Cà Văn P; còn bà: Cà Thị; v , con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không; bị bắt t m giữ, t m giam từ ngày 29/4/2018 cho đến nay. Có mặt t i phiên tòa.

2. Họ và tên: Lò Văn B, sinh ngày 09/3/2000; nơi ĐKHKTT: Bản O, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; dân t c: Thái; tôn giáo: Không; Ch c v , đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Học sinh; trình đ văn hóa: 12/12; con ông: Lò Văn Đ; còn bà: Lò Thị D; v , con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không; bị bắt t m giữ, t m giam từ ngày 29/4/2018 cho đến nay. Có mặt t i phiên tòa.

3. Họ và tên: Lò Văn D, sinh năm 1997; nơi ĐKHKTT: Bản L, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; dân t c: Thái; tôn giáo: Không; Ch c v , đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình đ văn hóa: 08/12; con ông: Lò Văn T; còn bà: Lò Thị T; v , con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không; bị bắt t m giữ, t m giam từ ngày 29/4/2018 cho đến nay. Có mặt t i phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Cà Văn P (bố bị cáo T). Trú t i: Bản C, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

2. Ông Lò Văn Đ (bố bị cáo B). Trú t i: Bản O, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án, thì n i dung v án đư c tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 00 ngày 29 tháng 4 năm 2018, Tổ công tác Công an huyện S phối h p với Ban công an xã M, huyện S làm nhiệm v t i bản O, xã Mi đã phát hiện bắt quả tang Lò Văn D và Lò Văn B có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý. Thu giữ trong lòng bàn tay trái c a D 01 gói nilon màu trắng bên trong ch a 05 viên nén màu hồng nghi là Hồng phiến. Ngoài ra còn t m giữ c a D 01 ĐTDĐ Samsung; t m giữ c a B 01 xe mô tô Yamaha Exciter BKS 26C1-164.36 và 01 ĐTDĐ hiệu Masstel.

M r ng điều tra Lò Văn D và Lò Văn B khai nhận, nguồn gốc số ma tuý có đư c là do nhờ Cà Văn T đi mua h . Cơ quan CSĐT công an huyện S đã ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Cà Văn T và t m giữ c a To i 01 xe mô tô hiệu DETECH BKS 26AA-051.03, 01 ĐTDĐ hiệu Itel.

Ngày 05/02/2018, t i hòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành m niêm phong, cân tịnh, xác định khối lư ng vật ch ng và tr ch m u giám định, kết quả: 05 viên nén màu hồng nghi là Hồng phiến thu giữ c a Lò Văn D có khối lư ng 0,49gam, đã sử d ng hết làm m u giám định ký hiệu D.

T i kết luận giám định số 565/KLMT ngày 11/5/2018 c a hòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: (M u gửi giám định ký hiệu D là chất ma tuý, lo i chất Methamphetamine; khối lư ng m u giám định là 0,49 gam.

Quá trình điều tra xác định đư c như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 29/4/2018, Lò Văn D từ nhà đi đến quán nước Ngân Nga bản O, Mường S, huyện S để ngồi uống bia, sau đó D gọi điện tho i cho Lò Văn B đến để cùng đi mua Hồng phiến về sử d ng. M t lúc sau B điều khiển xe mô tô đến quán nước Ngân Nga, t i đây D nói có 150.000VNĐ và hỏi B có tìm đư c chỗ mua Hồng phiến không?. Do không có tiền nên khi thấy Lò Văn K SN 1990 bản O, cùng xã đang đ ng trước cửa quán Ngân Nga thì B đi đến hỏi vay c a K số tiền 150.000VNĐ, và hẹn đến tối sẽ trả. Sau khi vay đư c tiền c a K, B quay l i quán ngồi với D rồi nhắn tin điện tho i cho Cà Văn T để nhờ T đi mua h Hồng phiến với số tiền 300.000VNĐ và hẹn T đến quán game Th y Yến bản K, xã C để lấy tiền, T đồng ý rồi điều khiển xe máy BKS 26AA-051.03 đến quán game Th y Yến để gặp D và B. T i đây D đưa cho B số tiền 150.000VNĐ để B đưa cho T tổng số tiền 300.000VNĐ để nhờ đi mua ma túy h , nhưng do phải trả tiền chơi game hết 10.000VNĐ nên B chỉ đưa cho T 290.000VNĐ. T nhận lấy tiền c a B rồi điều khiển xe máy đến khu vực bản C, xã C, huyện S hỏi mua đư c c a m t nam thanh niên khoảng 20 tuổi, không rõ tên, địa chỉ 06 viên Hồng phiến với giá 300.000VNĐ, do B chỉ đưa 290.000VNĐ nên T tự bỏ thêm số tiền 10.000VNĐ để mua đ 06 viên Hồng phiến. Sau khi mua đư c ma túy, T cất vào trong túi quần đang mặc rồi điều khiển xe máy đến quán nước bản L, xã C, huyện để trú mưa. Lúc này, T nảy sinh ý định bớt l i 01 viên Hồng phiến để sử d ng cho bản thân nên đã nhắn tin cho B là đã mua đư c Hồng phiến với giá 60.000VNĐ/01 viên. Sau đó T mua 01 chiếc bật lửa ga và 01 bao thuốc lá Thăng Long để làm phương tiện sử d ng Hồng phiến rồi đi về. Khi T đi đến khu vực bản H, xã C, huyện thì gặp B và D đang điều khiển xe mô tô đi cùng chiều, T dừng xe đưa gói ni lon ch a 05 viên hồng phiến cho D ngồi ph a sau xe mô tô cầm lòng bàn tay trái rồi đi về. T điều khiển xe đi đến khu vực bờ Sông Mã thu c khu vực bản T, xã C, huyện S lấy giấy b c từ vỏ bao thuốc là Thăng Long và quấn tờ tiền 1.000VNĐ làm ống hút để sử d ng 01 viên Hồng phiến bớt l i bằng hình th c h t qua đường hô hấp rồi đi về nhà. Còn D và B điều khiển xe đi về đến khu vực bản O, xã M, huyện S thì bị tổ công tác Công an huyện S phối h p với Ban Công an xã M phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn b vật ch ng nêu trên.

Cáo tr ng số: 83/CT-VKSSM ngày 31 tháng 7 năm 2018 c a Viện Kiểm sát nhân dân huyện S truy tố Cà Văn T về t i Mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 251 B luật hình sự; Lò Văn B, Lò Văn D về t i Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 B luật hình sự.

T i phiên toà, Kiểm Sát viên v n giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị H i đồng xét xử áp d ng khoản 1 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 B luật hình sự. Xử ph t Cà Văn T từ 24 đến 30 tháng tù; Lò Văn B và Lò Văn D từ 12 đến 18 tháng tù. Tịch thu phát m i sung ngân sách Nhà nước đối với 03 điện tho i di đ ng c a các bị cáo; trả l i 02 xe mô tô t m giữ c a bị cáo B và bị cáo T cho các ch s hữu h p pháp; Xét hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình ph t bổ sung cho bị cáo.

Căn c vào các ch ng c tài liệu đư c thẩm tra t i phiên tòa; căn c vào kết quả tranh luận t i phiên tòa; trên cơ s xem xét đầy đ toàn diện, ch ng c , ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo cùng các ch ng c khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ s n i dung v án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ đã đư c thẩm tra, xét hỏi, tranh luận t i phiên toà, H i đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng c a Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th t c quy định c a B luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định c a cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng c a Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều h p pháp.

T i phiên toà các bị cáo thừa nhận toàn b hành vi c a mình; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai t i cơ quan Điều tra; phù h p với n i dung, t i danh bản Cáo tr ng; lời khai nhận c a bị cáo c ng phù h p với biên bản ph m t i q a tang, lời khai c a người làm ch ng cùng các tài liệu, ch ng c khác có trong hồ sơ v án. T i phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, các bị cáo hoàn toàn nhất tr và không có tranh luận với Kiểm sát viên, ý kiến cuối cùng xin đư c giảm nhẹ hình ph t.

Các bị cáo vì ham chơi, đua đòi nên đã góp tiền rồi nhờ người mua ma tuý về để sử d ng. Bị cáo Cà Văn T bỏ thêm 10.000 đồng và đư c hư ng l i 01 viên Hồng phiến tương ng với 40.000VNĐ; các bị cáo Lò Văn B, Lò Văn D bị bắt quả tang 0,49 gam Methamphetamine.

Như vậy, H i đồng xét xử có cơ s để kết luận: Cà Văn T ph m t i “Mua bán trái phép chất ma tuý”, t i ph m và hình ph t đư c quy định t i khoản 1 Điều 251 B luật hình sự; Lò Văn B, Lò Văn D ph m t i “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, t i ph m và hình ph t đư c quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 B luật hình sự. Do đó, Kh i tố c a cơ quan Điều tra và Truy tố c a Viện kiểm sát là có căn c , đúng pháp luật.

Hành vi ph m t i c a các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã h i; xâm ph m sự quản lý đ c quyền c a Nhà nước đối với các chất ma túy; gây mất trật tự trị an t i địa phương và gây b c xúc trong nhân dân. Các bị cáo tuổi đời đều còn trẻ, vì ham chơi đua đòi nên d n đến ph m t i. Các bị cáo là người có đầy đ năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo nghiêm khắc, nhằm răn đe, giáo d c và phòng ngừa chung.

Xét vai trò c a các bị cáo trong v án: Bị cáo Cà Văn T đ c lập về t i Mua bán trái phép chất ma tuý; bị cáo D và bị cáo B đồng ph m về t i Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xét vai trò thì Lò Văn D là người giữ vai trò ch nh, r rê, lôi kéo; Lò Văn B giữ vai trò giúp s c (th yếu). Khi quyết định hình ph t đối với các bị cáo H i đồng xét xử sẽ xem xét nhằm có hình ph t đúng m c, phù h p với hành vi ph m t i c a từng bị cáo.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng; đều chưa có tiền án, tiền sự; t i cơ quan Điều tra và t i phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ đư c pháp luật quy định cần áp d ng cho các bị cáo đư c hư ng.

Đối với Lò Văn K là người cho Lò Văn B vay số tiền 150.000VNĐ vào ngày 29/4/2018. Quá trình điều tra xác định K không biết B vay tiền để đi mua ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an huyện S không đặt vấn đề xử lý về hình sự là có căn c , đúng pháp luật.

Về số ma tuý thu giữ đư c trong v án: Bị cáo T khai mua đư c c a m t nam thanh niên không quen biết, nên cơ quan Điều tra không có căn c để m r ng v án là phù h p, cần chấp nhận.

Vật ch ng v án còn l i: 01 xe mô tô BKS 26C1-16436; 01 chiếc xe máy BKS 26AA-051.03; 03 điện tho i di đ ng, 01 vỏ phong bì và 01 mảnh túi nilon màu trắng, cần tiếp t c xử lý theo quy định c a pháp luật.

Xét thấy các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên miễn hình ph t bổ sung (phạt tiền) cho bị cáo.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Cà Văn T ph m t i Mua bán trái phép chất ma tuý; các bị cáo Lò Văn B, Lò Văn D ph m t i Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Áp d ng khoản 1 Điều 251 B luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 B luật hình sự. Xử ph t: Cà Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù t nh từ ngày t m giữ, t m giam ngày (29/4/2018).

- Áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 B luật hình sự.

+ Xử ph t: Lò Văn D 14 (mười bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù t nh từ ngày t m giữ, t m giam ngày (29/4/2018).

+Xử ph t: Lò Văn B 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù t nh từ ngày t m giữ, t m giam ngày (29/4/2018).

2. Vật ch ng: Áp d ng khoản 1, 2 Điều 47 B luật hình sự; khoản 2 Điều 106 B luật tố t ng hình sự.

- Tịch thu để tiêu hu : 01 (m t) phong bì màu trắng do Bưu điện Việt Nam phát hành. Mặt trước phong bì có dòng chữ: "Vật chứng vụ: Lò Văn D SN 1997 chỗ ở: bản L, xã Mi, huyện S, tỉnh Sơn La. Hành vi: Cùng đồng phạm tàng trữ trái phép chất ma tuý. Gồm 01 mảnh Nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu". Trên mặt đo n giấy trắng niêm phong mặt sau phong bì có ghi dòng chữ: "Cơ quan CSĐT - Công an huyện S, ngày 02/5/2018" và có đầy đ chữ ký c a thành phần tham gia niêm phong cùng 02 hình dấu đỏ c a Cơ quan CSĐT - Công an huyện S.

- Tịch thu phát m i sung vào ngân sách Nhà nước đối với 03 điện tho i sau đây:

+ Điện tho i di đ ng hiệu SAMSUNG vỏ màu trắng, số imei: 359034063968693, điện tho i đã c qua sử d ng (c a Lò Văn D).

+ Điện tho i di đ ng hiệu Massel vỏ màu đen trắng, số imei: 301014123420173, điện tho i đã c qua sử d ng (c a Lò Văn B).

+ Điện tho i di đ ng hiệu ITEL S31 vỏ màu xám, số imei:351648091643503, điện tho i đã c qua sử d ng (c a Cà Văn T).

- Trả l i cho ông Cà Văn P: Chiếc xe mô tô BKS 26AA-051.03 thu giữ c a Cà Văn To i.

- Trả l i cho ông Lò Văn Đ: Chiếc xe mô tô BKS 26C1-164.36 thu giữ c a Lò Văn Bình.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/7/2018 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện S và Công an huyện S, tỉnh Sơn La).

3. Về án ph : Áp d ng Điều 135 B luật tố t ng hình sự; các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Các bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo 200.000 đồng.

Các bị cáo; người có quyền l i, nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ