vanban.org

Bản án 113/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 20/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN HỮU Q - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 113/2017/HSST
Ngày 20 tháng 07 năm 2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Nguyễn Thị Xuân Huyền

Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Nam Bình.

- Ông Vũ Tiến Thịnh.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình.

Kiể m sá t viên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Anh - Kiểm sát viên sơ cấ p Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình.

Ngày 20 tháng 07 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình , tỉnh Thái Bình, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 102/2017/HSST ngà y 23 tháng 6 năm 2017, Quyế t đị nh đưa vụ á n ra xét xử số 118/2017/QĐXX-ST ngà y 06 tháng 07 năm 2017, đố i vớ i bị cá o:

Họ và tên: NGUYỄN HỮU Q – Sinh ngày 05/01/1982.

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở : Số nhà 36, đường H, tổ 6, phường L, thành phố T, tỉnh T.

Trình độ văn hóa: 12/12;

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Dân tộc: Kinh;

Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Nguyễn Hữu T (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị N - Sinh năm 1958.

Gia đì nh có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai.

Vợ: Trần Thị Kiều L - Sinh năm 1982; Có bốn con, con lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2015.

Đều trú tại: Số nhà 36, đường H, tổ 6, phường L, thành phố T, tỉnh T.

* Tiền án, Tiền sự: Không.

* Nhân thân:

- Quyết đị nh số 2094 ngày 31/8/2010 về việc áp dụng biện phá p đưa và o Trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội 12 tháng. Chấp hành xong ngày 01/9/2011.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 17/5/2017 đến ngà y 20/5/2017 chuyể n tạ m giam đến nay. Hiệ n bị cá o đang bị tạ m giam tạ i Nhà tạ m giữ Công an thà nh phố Thá i Bì nh . Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngườ i là m chứ ng:

- Ông Nhâm Văn T, sinh năm 1958; Trú tạ i: Số nhà 5/6/13, tổ 31, phường L,

thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. (Vắ ng mặ t)

- Ông Vũ Thế D, sinh năm 1960; Trú tạ i: Số nhà 03, tổ 13B, phường L, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. (Vắ ng mặ t)

NỘ I DUNG VỤ Á N:

Theo cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và diễ n biế n tạ i phiên tò a, nộ i dung vụ á n đượ c tó m tắ t như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 17/5/2017, Nguyễn Hữu Q đi bộ từ nhà đến khu

vực ngõ 73, đường H, tổ 8, phường L, thành phố Thái Bình để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây Q gặ p và mua củ a mộ t ngườ i nam giới khoảng 40 tuổ i, không quen biế t 300.000 đồ ng đượ c một gói nhỏ ma túy đá , bên ngoà i được gói bằng túi nilon màu trắng. Khi Q đi đến khu vực đường H, tổ 6, phường L, thành phố Thái Bình thì bị tổ Công tá c Công an phường L, thành phố Thái Bình yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của hai người làm chứng là ông Nhâm Văn T, sinh năm 1958; Trú tạ i: Số nhà 5/6/13, tổ 31, phường L, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình và ông Vũ Thế D, sinh năm 1960; Trú tạ i: Số nhà 03, tổ 13B, phường L, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Q tự giác lấy từ túi quần bên phải phía trước ra giao nộp cho tổ công tá c 01 điện thoại Nokia X1 màu đen đã qua sử dụng và 01 gói bằng túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt; Q khai nhận đó là ma túy đá Q mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác niêm phong trong phong bì có chữ ký của Q và hai người làm chứng. Ngoài ra Cơ quan điều tra không quản lý đồ vật , tài sản gì khác. Tổ công tá c đã tiế n hà nh lậ p biên bả n bắ t ngườ i phạ m tộ i quả tang và niêm phong vậ t chứ ng.

Bản kết luận giá m đị nh số 163/KLGĐ-PC54 ngày 17/5/2017 của Phò ng kỹ thuậ t hì nh sự Công an tỉ nh Thá i Bì nh kế t luậ n :“Mẫ u gử i giá m đị nh thu củ a Nguyễn Hữu Q là ma túy , loại Methamphetamine, có trọng lượng 1,3198 gam (Một phẩy ba nghìn một trăm chín mươi tám gam)”.

Trong quá trình điều tra , truy tố và tạ i phiên tò a hôm nay , Nguyễn Hữu Q đã khai nhậ n toà n bộ hà nh vi phạ m tộ i củ a mì nh.

Bản cá o trạ ng số 110/KSĐT ngà y 22 tháng 6 năm 2017 của Viện kiểm sá t nhân dân thà nh phố Thá i Bì nh truy tố bị cá o Nguyễn Hữu Q về tộ i “Tà ng trữ trá i phé p chất ma túy” theo khoả n 1 Điề u 194 Bộ luậ t hì nh sự .

Tại phiên tòa , đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân thà nh phố Thá i Bì nh vẫ n giữ

nguyên quan điể m truy tố Nguyễn Hữu Q về tộ i Tà ng trữ trá i phé p chất ma túy.

Đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân thà nh phố Thá i Bì n h đề nghị Hội đồ ng xé t xử áp dụng Điều 194, khoản 1; Điều 46, khoản 1, điểm p; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Điều 7, khoản 3, điểm c; Điều 249, khoản 1 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị xử phạt bị cáo mứ c á n từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thờ i hạ n tù tí nh từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 17/5/2017.

- Về vậ t chứ ng củ a vụ á n:

Đề nghị tị ch thu tiêu hủ y số ma tú y cò n lạ i sau giá m đị nh ; Trả lạ i bị cá o 01

chiếc điện thoại Nokia X1 màu đen.

Trướ c khi Hộ i đồ ng xé t xử và o phò ng nghị á n , bị cáo trình bày lời nói sau

cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A HỘ I ĐỒ NG XÉ T XỬ:

Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c thẩ m tra, xét hỏi, tranh luậ n tạ i phiên tò a, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n thấ y như sau:

Về hà nh vi , quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan điề u tra Công an thà nh phố Thá i

Bình, Điề u tra viên, Việ n kiể m sá t nhân dân thà nh phố Thá i Bì nh, Kiể m sá t viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thự c hiệ n đú ng về thẩ m quyề n , trình tự, thủ tụ c quy đị nh của Bộ luật tố tụ ng hì nh sự . Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặ c khiế u nạ i về hà nh vi , quyế t đị nh củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng , ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng. Do đó , các hành vi , quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụng , ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng đã thự c hiệ n đề u hợ p phá p.

Lờ i khai củ a b ị cá o tạ i phiên tò a hôm nay phù hợp với lời khai của bị cá o tạ i

giai đoạ n điề u tra, truy tố , phù hợp với các tài liệu , chứ ng cứ như: Biên bả n bắ t ngườ i phạm tội quả tang lập hồi 08 giờ 15 phút ngà y 17/5/2017 (bút lụ c số 03 - 04); Biên bản niêm phong vật chứ ng lập hồi 09 giờ 30 phút ngày 17/5/2017(bút lụ c số 18); Cùng các tài liệu, chứ ng cứ khá c có trong hồ sơ vụ á n.

Hành vi phạm tội của bị cá o là nguy hiểm cho xã hội , đã xâm phạ m quy đị nh quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Ma túy là vật cấm lưu hà nh, không những làm sa sút về sức khỏe trí tuệ con người mà nó còn làm hủy hoại đạo đức nhân cách con người, là tác nhân lan truyền đạ i dịch HIV/AIDS, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác gây ảnh hưởng đến trật tự trị an.

Bị cáo là người trên 18 tuổ i, có đầ y đủ năng lự c nhậ n thứ c và điề u khiể n hà nh vi củ a mì nh.

Bị cáo đã có hành vi cố ý tà ng trữ trá i phé p ma tú y mụ c đí ch để sử dụ ng cho bản thâ n. Theo Kế t luậ n giá m đị nh của Phò ng kỹ thuật hì nh sự Công an tỉ nh Thá i Bì nh thì số ma túy bị cáo tàng trữ là loại Methamphetamine , trọng lượng 1,3198 gam. Vì vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tà ng trữ t rá i phé p chất ma túy ”, tộ i phạ m và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điề u 194 Bộ luậ t Hì nh sự năm 1999.

Điề u 194 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999 quy đị nh:

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất

ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Điề u 249 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015 quy đị nh:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượ ng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”

Theo quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 194 Bộ luậ t Hì nh sự năm 1999 mứ c hì nh phạ t tù từ 02 năm đế n 07 năm là cao hơn so vớ i mứ c hì nh phạ t tù từ 01 năm đế n 05 năm quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 249 Bộ luậ t Hì nh sự năm 2015. Căn cứ và o nhữ ng quy đị nh có lợi cho bị cá o do thay đ ổi chính sá ch phá p luật Hì nh sự của Nhà nước theo Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Điề u 7, khoản 3; Điề u 249, khoản 1 Bộ luậ t Hì nh sự năm 2015;

Và căn cứ vào tính chất , mứ c độ phạ m tộ i , tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hì nh sự , nhân thân củ a bị cá o, Hội đồ ng xét xử xét thấy cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra , như vậ y mớ i có tá c dụ ng giá o dụ c , răn đe đố i vớ i bị cá o, phòng ngừa chung, nhưng khi lượng hình xem xét cân nhắc giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

Xem xé t nhân thân và cá c tì nh tiế t giả m nhẹ , tăng nặ ng trá ch nhiệ m hì nh sự của bị cáo thấy b ị cáo thành kh ẩn khai báo, ăn năn hố i cải nên đượ c hưở ng t ì nh tiết giảm nhẹ quy đị nh tại Điều 46, khoản 1,điểm p Bộ luật hình sự năm 1999;

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặ ng trách nhiệm hình sự nào.

Bị cáo không có tiền án , tiề n sự , nhưng là ngườ i có nhân thân xấ u , đã bị xử

phạt vi phạ m hành chính và bịTòa án kết án nhưng bịcáo không lấy đó làm bài học cho bả n thân , tiế p tụ c thự c hiệ n hà nh vi vi phạ m phá p luật , thể hiệ n bị cá o là ngườ i không tôn trọ ng phá p luậ t . Hội đồ ng xét xử xét thấy cần cách l y bịcáo khỏi xã hội mộ t thờ i gian mớ i đủ sứ c răn đe , giáo dục bị cáo , đồ ng thờ i phò ng ngừ a chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồ ng xét xử cũng xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

- Về nguồ n gố c số ma tú y, theo Q khai mua của một người nam giới khoảng 40 tuổ i, không quen biế t tạ i khu vự c ngõ 73, đường H, tổ 8, phường L, thành phố Thái Bình nên Cơ quan điề u tra không có căn cứ để điề u tra, xử lý là phù hợp.

- Đối với 01 chiế c điện thoại nokia X1 màu đen là tài sản hợp pháp của bị cáo , không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i nên cầ n trả lạ i bị cá o.

Về á n phí : Bị cáo phải chị u á n phí hì nh sự sơ thẩ m theo quy đị nh của phá p luật.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾ T ĐỊ NH

1. Tuyên bố : Bị cáo Nguyễn Hữu Q phạm tội“Tà ng trữ trái phé p chất ma tú y”.

2. Hình phạt: Áp dụng Điều 194, khoản 1; Điều 46, khoản 1, điểm p; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội và Điều 7, khoản 3; Điề u 249, khoản 1, điểm c Bộ luậ t Hì nh sự năm 2015.

Xử phạ t bị cá o Nguyễn Hữu Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y bị cá o bị bắ t tạ m giữ 17/5/2017.

3. Về xử lý vật chứng : Áp dụng Điều 76 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự ; Điề u 41 Bộ luậ t hì nh sự .

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy trong vụ án được hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 163/KLGĐ.

- Trả lạ i bị cá o 01 chiếc điện thoại Nokia X1 màu đen, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

4. Về á n phí : Áp dụng Điều 99 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự

; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy đị nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộ c bị cá oNguyễn Hữu Q phải nộp200.000 đồ ng á n phí hì nh sự sơ thẩ m.

Trường hợp bản án, quyết định đượ c thi hành án theo quy định tại Điề u 2 Luật thi hành án dân sự thì người đượ c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hà nh án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hà nh án đượ c thực hiện theo quy định tại Điề u 30 của Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 20/07/2017./.

Nơi nhậ n:

Cỡ chữ