vanban.org

Bản án 112/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 13/11/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thành Tín N và Sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thành Tín N 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Bị cáo Lê Thành Tín N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 47/2019/HS-ST Tuyên án 31/07/2019
Phúc thẩm — đang xem Bản án 112/HSPT Tuyên án 13/11/2019

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thành Tín N phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thành Tín N và Sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2019/HS-PT
Ngày : 13 - 11 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Ngọc Sơn

Các Thẩm phán:

1. Ông Trần Minh Hải

2.Ông Đào Chí Keo

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhuần – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Thành Năng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 141/2019/TLPT-HS ngày 11/9/2019 đối với bị cáo Lê Thành Tín N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2019/HSST ngày 31/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

Lê Thành Tín N, sinh năm 1993; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ 5, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh, Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật Giáo Hòa Hảo; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Văn P (chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1956. Có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1987, có 01 con tên Lê Thành T, sinh năm 2016. Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là người cuối cùng.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo Lê Thành Tín N có Luật sư Lôi Văn Đ– Đoàn Luật sư tỉnh An Giang (có mặt);

Bị hại: Ông Trần Minh T, sinh năm 1982, nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ 25, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).

(Viện kiểm sát không kháng nghị).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 28/11/2018, Lê Thành Tín N điều khiển xe mô tô biển số 67E1-2876 đến khu vực chợ C, phường C, thành phố C thấy Trần Minh T cự cãi, dùng nón bảo hiểm đánh vào đầu Bùi Thị Cẩm G (em bà con với Tín N); Tín N bênh vực G, nên lấy đoạn tuýp sắt trên xe mô tô chở nước đá đậu gần đó đuổi đánh T khi đang chạy xe mô tô, đánh trúng lưng T bỏ chạy, Tín N dùng chân đạp T và xe ngã xuống đường, tiếp tục dùng tuýp sắt đánh nhiều cái trúng lưng T bỏ chạy vào nhà ông Nguyễn Quang K, mọi người can ngăn, người bán nước đá (không rõ họ, tên) đến giật lại tuýp sắt, nên không làm việc và không thu hồi được vật chứng là đoạn tuýp sắt; Tín N về nhà, T đi điều trị, có đơn yêu cầu xử lý hình sự.

Căn cứ kết luận giám định pháp y về thương tích số 46/19/TgT ngày 05/3/2019 của Trung T Pháp y tỉnh An Giang, ghi nhận: Trần Minh T, sinh năm 1982, ngụ tổ 25, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo bả vai trái không tồn tại; sẹo sây sát lưng trái, kích thước (02 x0.4) cm; sẹo sây sát giữa thắt lưng lệch bên phải, kích thước (05 x 0.5) cm; sẹo sây sát mặt sau huỷu tay phải, không tồn tai; sẹo mờ sây sát mặt sau 1/3 giữa cánh tay trái, kích thước (3.5 x 0.5) cm; gãy xương sườn số VI, bên trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 11%;

Ngày 10 tháng 4 năm 2019, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Châu Đốc quyết định khởi tố vụ án hình sự; khởi tố bị can và lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Lê Thành Tín N;

Tại Cáo trạng số 48/CT –VKSCĐ ngày 26/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố Lê Thành Tín N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 47/2019/HSST ngày 31/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã quyết định:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b,s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thành Tín N 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 09/8/2019 bị cáo Lê Thành Tín N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án và đề xuất với Hội đồng xét xử:

- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo Lê Thành Tín N kháng cáo trong hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

- Về nội dung: Cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 với mức hình phạt 01 năm tù là có căn cứ, đúng người, đúng tội và tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Giai đoạn phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Trong vụ án này, bị cáo phạm tội có tính chất “côn đồ” nên không đủ điều kiện được hưởng án treo theo Nghị quyết 02/2018/HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, có xem xét cho bị cáo là lao động chính trong gia đình, thời gian tại ngoại không có vi phạm gì mới, tại tòa bị hại tiếp tục xin cho bị cáo được án treo hoặc giảm nhẹ hình phạt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thành Tín N, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Thành Tín N trình bày: Không tranh luận với Kiểm sát viên về điểm, khoản, điều luật đã truy tố và xét xử đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn đang nuôi mẹ già, con nhỏ, từ trước đến nay bị cáo chưa tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, quá trình được tại ngoại không có vi phạm gì mới, đã bồi thường cho người bị hại; Tại tòa bị hại xin cho bị cáo được hưởng án treo hoặc giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có hộ khẩu thường trú có Công an phường xác nhận và nhân dân ở khóm C, phường C, thành phố C có đơn xin cho bị cáo Lê Thành Tín N được hưởng án treo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét cân nhắc xem xét cho bị cáo được hưởng án treo tạo điều kiện để bị cáo ở địa phương sống có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Bị cáo Lê Thành Tín N kháng cáo trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xét xử phúc thẩm.

Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Thành Tín N tại phiên tòa phúc thẩm hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp lời khai bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đầy đủ căn cứ xác định: Bị cáo Lê Thành Tín N đã dùng ống tuýp sắt gây thương tích cho anh Trần Minh T với tỷ lệ thương tật là 11%. Căn cứ vào quy định của pháp luật, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm được quy định và trừng phạt tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, nên cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh này là có căn cứ.

Đối với Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Thành Tín N nêu ra những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có cơ sở. Hội đồng xét xử ghi nhận để xem xét.

Xét kháng cáo của bị cáo Lê Thành Tín N thì thấy: Bị cáo đứng trước phiên tòa hôm nay là một người trưởng thành, khỏe mạnh, có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, giữa bị cáo và bị hại hoàn toàn không mâu thuẫn gì với nhau; chỉ vì muốn bênh vực người thân của mình, bị cáo đã dùng ống tuýp sắt rượt đuổi đánh bị hại Trần Minh T, khi anh T sợ bỏ chạy bị cáo còn dùng chân đạp T, tiếp tục dùng tuýp sắt đánh nhiều cái vào lưng anh T đến khi anh T trốn vào nhà ông Khải. Lẽ ra, khi thấy T và G có mâu thuẫn đánh nhau, bị cáo có thể chọn cho mình một cách hành xử đúng đắn, có thể can ngăn trực tiếp hoặc báo Công an hay Ban quản lý chợ để yêu cầu giải quyết nhưng chỉ vì bản tính hung hăng bị cáo đã ngang nhiên, vô cớ đuổi đánh anh T tại nơi đông người, thậm chí còn sử dụng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh T thể hiện sự liều lĩnh, côn đồ, xem thường pháp luật, xem thường tính mạng sức khỏe của người khác. Hành vi của bị cáo Lê Thành Tín N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khỏe của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, nên cần phải có hình phạt nghiêm mới có tác dụng răn đe giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người tốt được. Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội. Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ xử phạt bị cáo 01 năm tù là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp pháp luật. Mức án 01 năm tù mà cấp sơ thẩm xử phạt là tương xứng với tình chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Giai đoạn phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo và xin giảm nhẹ hình phạt nhưng xét thấy bị cáo phạm tội mang tính chất “Côn đồ”, không thõa mãn khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao nên không được hưởng án treo theo quy định. Tuy nhiên, có xem xét thêm cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ sau: Tại phiên tòa bị hại Trần Minh T tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, những người dân tại nơi bị cáo cư trú có đơn xin giảm nhẹ hình phạt hoặc xin cho bị cáo được hưởng án treo, bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải nuôi mẹ già, con nhỏ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh trong giai đoạn xét xử phúc thẩm nên Hội đồng xét xử có cân nhắc giảm cho bị cáo một phần hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa hôm nay.

Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Lê Thành Tín N không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thành Tín N và Sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b,s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thành Tín N 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Bị cáo Lê Thành Tín N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2019/HSST ngày 31/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ