vanban.org

Bản án 112/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Hồng O được ly hôn với ông Trương Bảo Â. Về con chung: Giao 02 (hai) con chung tên Trương Khánh H, sinh ngày 21/5/2017 và Trương Khánh N, sinh ngày 25/10/2019 cho bà Trần Thị Hồng O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Ông Trươn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Hồng O - Trương Bảo  - Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – CẦN THƠ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 08 - 6 - 2026
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hữu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Châu Thị Chúc.

Bà Ngô Thị Muỗi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Quốc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ, Thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Bé Năm - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2026, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ, Thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2026/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2026, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hồng O, sinh ngày 20/9/1985 (Có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt);

Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 26/3/2025.

Địa chỉ: Ấp B, xã A, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Trương Bảo Â, sinh năm 1985 (Vắng mặt);

Chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx cấp ngày 01/11/2011.

Địa chỉ: Số B, ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo Đơn khởi kiện ngày 04 tháng 3 năm 2026, nguyên đơn bà Trần Thị Hồng O trình bày:

Bà Trần Thị Hồng O và ông Trương Bảo  quen nhau có làm lễ cưới theo đúng phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 24/5/2016 đăng ký tại UBND xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Nay là xã A, thành phố Cần Thơ). Bà Trần Thị Hồng O và ông Trương Bảo  thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, nên cuộc sống giữa bà Trần Thị Hồng O và ông Trương Bảo  không hạnh phúc. Mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà Trần Thị Hồng O yêu cầu được ly hôn với ông Trương Bảo Â.

Trong thời kỳ hôn nhân bà O và ông Trương Bảo  có 02 (hai) con chung tên Trương Khánh H, sinh ngày 21/5/2017 và Trương Khánh N, sinh ngày 25/10/2019, hiện tại các con chung đang sống với bà O. Khi ly hôn bà Trần Thị Hồng O yêu cầu Toà án giải quyết giao 02 (hai) con chung tên Trương Khánh H, sinh ngày 21/5/2017 và Trương Khánh N, sinh ngày 25/10/2019 cho bà O tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ tuổi trường thành, bà O không yêu cầu ông  cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn ông Trương Bảo Â:

Ông  đã được cấp, tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không có văn bản tường trình ý kiến, không cung cấp chứng cứ phản đối yêu cầu khởi kiện của bà O.

- Tại Biên bản ghi ý kiến con chung ngày 29 tháng 4 năm 2026, cháu Trương Khánh H trình bày:

Cháu H đang sống cùng với mẹ; cháu H có nguyện vọng được sống cùng với mẹ.

- Tại phiên toà sơ thẩm:

Bà Trần Thị Hồng O có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt;

Ông Trương Bảo  vắng mặt không có lý do.

Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Riêng bị đơn ông Trương Bảo  vắng mặt phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, vắng mặt các phiên toà là chưa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Ý kiến về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Hồng O: Bà Trần Thị Hồng O được ly hôn với ông Trương Bảo Â. Giao 02 (hai) con chung tên Trương Khánh H, sinh ngày 21/5/2017 và Trương Khánh N, sinh ngày 25/10/2019 cho bà Trần Thị Hồng O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi; bà O không yêu cầu ông  phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung bà O trình bày không có, không yêu cầu giải quyết; ông  không có ý kiến yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn bà Trần Thị Hồng O khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn ông Trương Bảo Â. Bị đơn ông Trương Bảo  cư trú tại ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ. Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), quan hệ pháp luật tranh chấp vụ án: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ, thành phố Cần Thơ.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà O có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt, bị đơn ông  được triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà đến lần thứ hai, vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định tại điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà O, ông Â.

Về quan hệ hôn nhân: Bà O, ông  tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã A, thành phố Cần Thơ) và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 68/2016 ngày 24/5/2016. Tại thời điểm kết hôn, bà O, ông  đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại các Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên quan hệ hôn nhân giữa bà O, ông  được pháp luật công nhận.

Xét yêu cầu ly hôn của bà O, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo bà O trình bày, sau khi kết hôn bà O, ông  chung sống hạnh phúc, đến những năm gần đây thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống gia đình luôn căng thẳng, nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, từ đó mỗi người có cuộc sống riêng. Ông  không có văn bản tường trình ý kiến về mâu thuẫn gia đình, không tham gia hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được. Từ đó cho thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà O, ông  đã lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà O yêu cầu được ly hôn với ông  là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Theo giấy khai sinh số: 171/2017 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã A, thành phố Cần Thơ) thể hiện bà O và ông  có con chung tên Trương Khánh H (Giới tính: Nữ), sinh ngày 21/5/2017 và giấy khai sinh số 1476/2019 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã A, thành phố Cần Thơ) thể hiện bà O và ông  có con chung tên Trương Khánh N (Giới tính: Nữ), sinh ngày 25/10/2019. Bà O yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02(hai) con chung đến khi đủ 18 tuổi. Ông  không có ý kiến phản đối yêu cầu này của bà O. Hội đồng xét xử xét thấy, các con chung hiện đang sống cùng bà O, cuộc sống, đã ổn định và cháu H; cháu N đều là (Giới tính: Nữ) nên giao cháu H, cháu N cho bà O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung. Do đó, yêu cầu về con chung của bà O là có căn cứ chấp nhận.

Tại Khoản 1 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi” và Khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Theo quy định này, ông  là người không trực tiếp nuôi con chung phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con chung được sống với bà O. Đồng thời, ông  có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Tại Khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Theo quy định này, ông  là người không trực tiếp nuôi con chung phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, bà O không yêu cầu ông  phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà O trình bày không có, không yêu cầu giải quyết. Ông  không có ý kiến yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên không xem xét, giải quyết.

Như đã nhận định, phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bà O là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

- Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Hồng O được ly hôn với ông Trương Bảo Â.

2. Về con chung: Giao 02 (hai) con chung tên Trương Khánh H, sinh ngày 21/5/2017 và Trương Khánh N, sinh ngày 25/10/2019 cho bà Trần Thị Hồng O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Ông Trương Bảo  có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Trần Thị Hồng O không yêu cầu ông Trương Bảo  phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Hồng O trình bày không yêu cầu giải quyết. Ông Trương Bảo  không có ý kiến yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên không xem xét, giải quyết.

5. Về án phí sơ thẩm: Bà Trần Thị Hồng O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí, án phí số 0004713 ngày 12 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố C. Bà Trần Thị Hồng O đã nộp xong án phí sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ