vanban.org

Bản án 112/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 30/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hà Khắc S phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Hình phạt: Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 173, điểm h, i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hà Khắc S. Xử phạt: Bị cáo Hà Khắc S 08 (tám ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 12/9/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Khắc S phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; luật hình sự và điểm a; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẬP THẠCH
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:112/2023/HSST
Ngày 30 tháng 11 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trung Thành

2. Ông Nguyễn Tiến Sửu

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Mạnh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 103/2023/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Hà Khắc S, sinh ngày 02/9/1978; tại Vĩnh Phúc; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn Đ, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Khắc Q (đã chết) và bà Vũ Thị N, sinh năm 1933; vợ, con chưa có; tiền án: Không.

Tiền sự: 01 tiền sự. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 56 ngày 12/6/2023 của Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, xử phạt số tiền 2.500.000 đồng, về hành vi trộm cắp tài sản. Hiện chưa nộp phạt.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/9/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

-Bị hai: Hợp tác xã dịch vụ tổng hợp vệ sinh môi trường xã L; Địa chỉ: xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Chí C- Chủ tịch UBND xã L. Đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1967; Nơi cư trú: thôn D, xã L, huyện Lập T, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Khắc S, sinh năm 1986; trú tại: thôn V, xã L, huyện L, Vĩnh Phúc. (có mặt); Anh Nguyễn Văn C; sinh năm 1977; trú tại: TDP T, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt). Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1981; trú tại: thôn X, xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt). Anh Nguyễn Khắc T, sinh năm 1988; trú tại: thôn V, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tạiphiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Khắc S, sinh năm 1978 ở thôn Đ, xã L, huyện L và Nguyễn Khắc S, sinh năm 1986 ở thôn V, xã L, huyện L là đối tượng nghiện chất ma túy. Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên S rủ S đi đến khu vực bãi rác của Ủy ban nhân dân xã L thuộc địa phận thôn T, xã L, huyện L (hiện do Hợp tác xã dịch vụ tổng vệ sinh môi trường xã L, huyện L) quản lý, để trộm cắp tài sản. Khoảng 17giờ ngày 29/6/2023, S điều khiển xe mô tô BKS 88K9-1424 chở S đến khu vực bãi rác. Quan sát không thấy có ai trông giữ, S cùng S lại gần cổng sắt của bãi rác, dùng tay nhổ chân 01 cánh cổng sắt khung bằng ống tuýp sắt bên trong được đan bằng lưới loại B40, kích thước 1,8x1,5 mét, nặng 40kg, rồi cùng nhau bê lên xe mô tô. Sau đó S điều khiển xe mô tô kẹp cánh cổng sắt ở giữa chở S đến cửa hàng bán sắt vụn của chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1981 ở thôn X, xã X, huyện L thỏa thuận bán cánh cổng sắt cho chị Đ với giá 300.000 đồng. Số tiền này S giữ và một mình chi tiêu cá nhân hết.

Sau khi phát hiện bị mất cánh cổng sát, ông Nguyễn Văn Đ Phó giám đốc Hợp tác xã dịch vụ tổng vệ sinh môi trường xã L là người đại diện theo ủy quyền, đã có đơn trình báo Cơ quan điều tra Công an huyện Lập Thạch. Tại Cơ quan điều tra S và S khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như trên. Cơ quan điều tra đã tạm giữ xe mô tô BKS 88K9-1424 của Sang và 01 cánh cổng bằng sắt của chị Đ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 38 ngày 10/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Lập Thạch, kết luận: 01 chiếc cánh cổng sắt nặng 40 kg có trị giá 360.000 đồng.

Quá trình điều tra, S khai nhận ngoài hành vi trộm cắp ngày 29/6/2023 như trên cùng với S, trước đó ngày 28/6/2023, S cùng Nguyễn Văn C, sinh năm 1977 ở tổ dân phố T, thị trấn H, huyện L trộm cắp được 01 cánh cổng sắt có đặc điểm như trên, nặng 46 kg và 01 cánh cổng sắt nặng 62 kg, tại khu vực bãi rác của Ủy ban nhân dân xã L, sau đó bán cho 01 người đàn ông buôn bán sắt vụn không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực xã X, huyện L, được tổng số tiền 750.000 đồng rồi cùng nhau tiêu sài cá nhân hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 48 ngày 11/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Lập Thạch, kết luận: 01 chiếc cổng sắt nặng 46 kg có trị giá 460.000 đồng; 01 chiếc cổng sắt nặng 62 kg có trị giá 620.000 đồng. Tổng trị giá 1.080.000 đồng.

Hành vi của Hà Khắc S trộm cắp tài sản trị giá 360.000 đồng, nhân thân có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của Nguyễn Khắc S 03 lần trộm cắp tài sản tổng trị giá 1.440.000 đồng và Nguyễn Văn C 02 lần trộm cắp tài sản tổng trị giá 1.080.000 đồng, bản thân S và C không có tiền án, tiền sự về các loại tội xâm phạm sở hữu, tài sản trộm cắp có giá trị nhỏ dưới 2.000.000 đồng. Nên, không đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản. Công an huyện đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với S và C.

Đối với chị Nguyễn Thị Đ, là người mua cánh cổng sắt ngày 29/6/2023. Quá trình điều tra xác định, chị Đ không hứa hẹn, S và S không nói là tài sản trộm cắp, nên chị Đ không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý hình sự đối với chị Đ.

Đối với người đàn ông thu mua sắt vụn ở khu vực xã X, huyện L, đã mua 02 cánh cổng sắt ngày 28/6/2023. Quá trình điều tra, S và C khai nhận không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý và thu hồi 2 cánh cổng trên.

* Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô BKS 88K9-1424 S và S sử dụng làm phương tiện đi lại trộm cắp và tiêu thụ tài sản. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Khắc T, sinh năm 1988 ở thôn V, xã L, huyện L (là em trai của S), anh T cho S mượn xe làm phương tiện đi lại, không biết S sử dụng làm phương tiện phạm tội. Do vậy cơ quan Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T.

Đối với 01 chiếc cổng sắt, dài 1,8 mét, rộng 1,5 mét, nặng 40 kg thu giữ của chị Đ, Cơ quan Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Văn Đ là chủ sở hữu quản lý hợp pháp và không yêu cầu S và C phải bồi thường gì đối với cánh cổng sắt còn lại không thu được.

Quá trình điều tra, chị Nguyễn Thị Đ yêu cầu S và S phải trả số tiền 300.000 đồng. Do vậy, cần buộc S và S phải liên đới bồi thường cho chị Đsố tiền 300.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo Hà Khắc S thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số: 109/CT-VKSLT ngày 14 tháng 11 năm 2023 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố bị cáo Hà Khắc S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch luận tội đối với bị cáo Hà Khắc S. Giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hà Khắc S, xử phạt: Bị cáo S từ 06 tháng đến 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Khắc S trả cho chị Nguyễn Thị Đ 300.000đ.

Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch đã truy tố và thừa nhận hành vi phạm tội của mình,bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo Hà Khắc S nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án,căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lập Thạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy anh C đã có đầy đủ lời khai trong quá trình điều tra và không có yêu cầu gì. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt anh C.

Tại phiên tòa bị cáo Hà Khắc S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 29/6/2023, tại khu vực bãi rác do Hợp tác xã dịch vụ tổng vệ sinh môi trường xã L, huyện L thuộc địa phận thôn T, xã L, huyện L, đang quản lý; Hà Khắc S và Nguyễn Khắc S (đều ở xã L, huyện L), đã có hành vi trộm cắp 01 cánh cổng sắt nặng 40 kg trị giá 360.000 đồng, sau đó đem bán được số tiền 300.000đ rồi S một mình tiêu sài cá nhân hết.

Trong vụ án này, Nguyễn Khắc S là người chủ mưu khởi sướng rủ Hà Khắc S thực hiện tội phạm, S tham gia với vai trò đồng phạm tích cực.

Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập theo trình tự của Bộ luật tố tụng hình sự được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Hành vi nêu trên của bị cáo Hà Khắc S đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: ‘‘Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá … dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a. Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;’’

Do đó bản cáo trạng số:109/CT-VKSLT, ngày 14/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Hà Khắc S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo còn trẻ, không chịu tu dưỡng rèn luyện, để có tiền tiêu sài cá nhân đã trộm cắp tài sản, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Đối chiếu với yêu cầu phòng chống tội phạm ở địa phương cần xử phạt bị cáo nghiêm minh tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe những kẻ khác góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.

Về nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết xem xét giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy rằng: Về nhân thân bị cáo có 01 tiền sự tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 56 ngày 12/6/2023 của Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, xử phạt số tiền 2.500.000 đồng, về hành vi trộm cắp tài sản, hiện chưa nộp phạt. Bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên bị cáo được hưởng tình tiết quy định tại điểm h,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần xử phạt tù cách ly bị cáo một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo chở thành người công dân tốt, luôn có ý thức pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật

hình sự quy định: “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ”. Tuy nhiên, bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bị hại đã nhận được tài sản và không đề nghị gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Đ yêu cầu anh S và bị cáo S phải trả số tiền 300.000 đồng. Tại phiên tòa anh S tự nguyện trả lại cho chị Đ toàn bộ số tiền 300.000 đồng và không yêu cầu bị cáo S phải trả, được chị Đ tự nguyện đồng ý. Do vậy cần buộc anh S phải bồi thường cho chị Đ số tiền 300.000 đồng.

Đối với người đàn ông thu mua sắt vụn ở khu vực xã X, huyện L, đã mua 02 cánh cổng sắt ngày 28/6/2023. Quá trình điều tra, S và C khai nhận không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý và thu hồi 2 cánh cổng trên.

. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 bộ luật hình sự và điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đối với chiếc xe mô tô BKS 88K9-1424 anh S và bị cáo S sử dụng làm phương tiện đi lại trộm cắp và tiêu thụ tài sản. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Khắc T, sinh năm 1988 ở thôn V, xã L, huyện L (là em trai của S), anh T cho S mượn xe làm phương tiện đi lại, không biết S sử dụng làm phương tiện phạm tội. Do vậy cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh T là đúng chủ sở hữu.

Đối với 01 chiếc cổng sắt, dài 1,8 mét, rộng 1,5 mét, nặng 40 kg thu giữ của chị Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Văn Đ là chủ sở hữu quản lý hợp pháp và không yêu cầu S và C phải bồi thường gì đối với cánh cổng sắt còn lại không thu được.

Về án phí: Bị cáo Hà Khắc S, anh Nguyễn Khắc S phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Hà Khắc S phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

2. Hình phạt: Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 173, điểm h, i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hà Khắc S.

Xử phạt: Bị cáo Hà Khắc S 08 (tám ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 12/9/2023.

3.Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ

luật hình sự; Điều 357, Điều 468, Khoản 1 Điều 584, Khoản 1 Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc anh Nguyễn Khắc S bồi thường cho chị Nguyễn Thị Đ 300.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, chị Đ có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh S không thanh toán số tiền trên thì anh S phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21 nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án bị cáo Hà Khắc S phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm; anh Nguyễn Khắc S phải chịu 300.000đ án phí dân sự trong án hình sự.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết tại Uỷ ban nhân dân nơi cư trú của người vắng mặt.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ