- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Hoài H+ đồng phạm- Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật s…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 112/2023/HS-ST Ngày: 26 – 4 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Thiệu Văn Kết Em
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Ngọc Phương.
Ông Lê Văn Công.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2023/TLST- HS ngày 15 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Trương Hoài H, sinh năm 2000 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: 203/1 khu phố B, phường A, thành phố A, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; Con bà Trương Thanh L, không rõ họ tên cha; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2022 cho đến nay.
2. Phạm Minh N, sinh ngày 27/7/2005 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: 487 khu phố L, phường Đ, thành phố A, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 08/12; Con ông Phạm Phước T và bà Võ Thị Thanh L; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2022 cho đến nay.
3. Nguyễn Thành P, sinh ngày 08/6/2004 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: 60/1A khu phố B, phường A, thành phố A, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 07/12; Con ông Nguyễn Thành C và bà Phùng Kim P; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2022 cho đến nay.
4. Vũ Ngọc T, sinh năm 2002 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: 20/3 khu phố A 1, phường H, thành phố A, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 08/12; Con ông Vũ Ngọc H (đã chết) và bà Phạm Thị Bích N; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2022 cho đến nay.
5. Phạm Quốc T, sinh ngày 23/7/2005 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: 5/3 khu phố H, phường P, thành phố A, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Phạm Minh P và bà Lê Thụy Đan V; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2022 cho đến nay.
6. Nguyễn Phan Tuấn K, sinh ngày 17/8/2004 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn 1, xã A, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 05/12; Con ông Nguyễn Thanh P và bà Phan Gia Quỳnh A; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2022 cho đến nay.
Các bị cáo có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Quốc T: Ông Nguyễn Tiến D là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Minh N: Bà Đinh Như A là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Quốc T: Ông Phạm Minh P, sinh năm 1980; địa chỉ: 5/3 khu phố H, phường P, thành phố A, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Minh N: Bà Võ Thị Thanh L, sinh năm 1971; địa chỉ: 481 khu phố L, phường Đ, thành phố A, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Bị hại: Cháu Lê Hoàng Trọng N, sinh năm 2005; địa chỉ: 843/1A Nguyễn D, phường A, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Lê Thị Kim A, sinh năm 1985; địa chỉ: 843/1A Nguyễn D, phường A, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phùng Kim P, sinh năm 1982; địa chỉ: Số 04, tổ 2, khu phố L, phường Đ, thành phố A, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Phạm Thị Bích N, sinh năm 1973; địa chỉ: Số 20/3, khu phố A1, phường H, thành phố A, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Bà Phan Gia Quỳnh A, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn 1, xã A, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Ông Phạm Phước T, sinh năm 1970 và bà Võ Thị Thanh L, sinh năm 1971; địa chỉ: 481 khu phố L, phường Đ, thành phố A, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Ông Phạm Minh P, sinh năm 1980 và bà Lê Thụy Đan V, sinh năm 1983; nơi cư trú: 5/3 khu phố H, phường P, thành phố A, tỉnh Bình Dương
- Ông Trương Hữu T, sinh năm 1998; địa chỉ: 203/1 khu phố B, phường T, thành phố A, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Người làm chứng: Nguyễn Thành C, Nguyễn Nhật T, Nguyễn Văn Tuấn E, Thạch Phòng C. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Hoài H, Phạm Minh N, Phạm Quốc T, Vũ Ngọc T, Nguyễn Thành P và Nguyễn Phan Tuấn K là bạn quen biết nhau ngoài xã hội. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 07/4/2021, H nH được cuộc gọi qua ứng dụng Messnger của tài khoản “Phương Vy” là bạn quen biết của H trên mạng xã hội nhờ H đến khu vực khu dân cư Eco Xuân ở khu phố Đông Nhì, phường Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương giải quyết mâu thuẫn đánh nhau với nhóm của Lê Hoàng Trọng N thì H đồng ý. H liền gọi qua ứng dụng Meseger kêu Tiến đến giúp H đánh nhau, Tiến đồng ý và rủ thêm K, T tham gia thì cũng được K và T đồng ý. T điều khiển xe mô tô Vario biển số 61C1 – 841.66 chở K còn T điều khiển xe mô tô Wave màu xanh (Không xác định được biển số) cùng đi đến điểm hẹn với H. Khoảng 30 phút sau, H thuê xe taxi đến rồi cả nhóm ngồi uống nước trước cổng Bệnh viện Becamex gần với khu dân cư Eco Xuân. Tại đây, H gọi qua ứng dụng Meseger rủ Phạm Minh N đến giúp H đánh nhau, N đồng ý và rủ thêm Phúc thì Phúc cũng đồng ý. N lấy một con dao tự chế dài khoảng 60cm mang theo rồi P điều khiển xe mô tô Sirius màu đỏ đen biển số 61C1 – 992.42 chở N đi đến điểm hẹn với H. Đến nơi, N giấu con dao vào bụi cây gần đó rồi đi lại gặp H thì H hỏi “có mang theo đồ không”, N hiểu H hỏi là có mang theo hung khí không nên đi đến bụi cây lấy con dao giấu vào bên trong áo khoác đang mặc rồi quay lại chỗ H đang ngồi. H kêu N, P, T, K và T đi vào trong khu dân cư Eco Xuân để đánh nhóm có xảy ra mâu thuẫn với bạn của H còn H sẽ đi vào sau. Lúc này, T điều khiển xe mô tô biển số 61C1 – 841.66 chở K, P điều khiển xe mô tô biển số 61C1 – 992.42 chở N còn T điều khiển xe mô tô Wave màu xanh cùng chạy vào khu dân cư Eco Xuân. Nhìn thấy, Lê Hoàng Trọng N; Nguyễn Thành C, Nguyễn Nhật T, Nguyễn Văn Tuấn E và Thạch Phòng C đang đứng chơi bên đường trước khu nhà Eco Xuân, K liền đi đến dùng bình xịt hơi cay mang theo xịt vào nhóm N còn P, N và T chạy đến, N dùng dao mang theo chém một nhát trúng vào vùng đầu của N làm N té ngã xuống đường bất tỉnh. Thấy N bị thương tích, N, P, T, T và K cùng nhau bỏ chạy. Trên đường bỏ chạy, N gọi điện thoại báo cho H biết là đã chém N và kêu H không phải đi vào nên H thuê xe taixi đi về. Lê Hoàng Trọng N được người dân đưa đi cấp cứu điều trị thương tích, đến ngày 08/4/2021 mẹ của N là bà Lê Thị Kim A nộp đơn yêu cầu xử lý hình sự.
Đến ngày 17/7/2022, Trương Hoài H, Phạm Minh N, Phạm Quốc T, Nguyễn Phan Tuấn K, Vũ Ngọc T và Nguyễn Thành P đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đầu thú, khai nhận hành vi như nêu trên. Đối với 01 (một) con dao tự chế dài khoảng 60cm và bình xịt hơi cay, Phạm Minh N và Nguyễn Thành P đã vứt trên đường bỏ chạy, không xác định được vị trí nên không thu hồi được.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 268 ngày 24/5/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương kết luận tỷ lệ thương tích của Lê Hoàng Trọng N là 33% (Ba mươi ba phần trăm) gồm vết thương đỉnh trái nối liền vết mổ 11 x 0.2cm, vết mổ gặm sọ lún hình vòng cung 25x0.3cm, sẹo lành; Lỗ khuyết sọ đường kính 10 x4cm đã đắp mảnh vá sọ bằng kim loại, khả năng do vật sắc gây ra.
Bản Cáo trạng số 90/CT-VKS -TA ngày 14/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố các bị cáo Trương Hoài H, Phạm Minh N, Phạm Quốc T, Vũ Ngọc T, Nguyễn Thành P và Nguyễn Phan Tuấn K về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trương Hoài H từ 07 năm đến 08 năm tù.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T từ 06 năm đến 07 năm tù.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58; các Điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Minh N từ 03 năm đến 03 năm 09 tháng tù và xử phạt bị cáo Phạm Quốc T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, Điều 51; Điều 58; các Điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Thành P từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 06 tháng tù và xử phạt bị cáo Nguyên Phan Tuấn Khanh từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 06 tháng tù.
Đối với người có tài khoản Messenger “Phương Vy” nhờ Trương Hoài H giúp đánh Lê Hoàng Trọng N, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý sau.
Đối với xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 61C1 – 841.66 Vũ Ngọc T sử dụng, quá trình điều tra xác định là tài sản của mẹ ruột Tiến là bà Vũ Thị Ngọc T. Ngày 07/4/2021, bà T cho T mượn xe mô tô trên để đi công việc, không biết Tiến sử dụng xe này vào việc phạm tội. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với xe mô tô Wave màu xanh (Không xác định được biển số) Phạm Quốc T sử dụng, quá trình điều tra xác định là tài sản của cha ruột T là ông Phạm Minh P. Ông mua lại xe này của một người không rõ lai lịch, địa chỉ, việc mua bán không lập hợp đồng, không sang tên theo quy định. Ngày 07/4/2021, Phạm Quốc T tự lấy xe này rồi đi chơi rồi sử dụng vào việc phạm tội. Sau đó, do xe hư hỏng nên ông T đã bán lại cho một người không rõ lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với xe mô tô Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số 61C1 – 992.42 Nguyễn Thành P sử dụng, quá trình điều tra xác định là tài sản của mẹ P là bà Nguyễn Thị M. Ngày 07/4/2021, Nguyễn Thành P tự lấy xe mô tô đi chơi rồi sử dụng vào việc phạm tội. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với các điện thoại di động các bị cáo sử dụng liên lạc với nhau để thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra xác định: Trương Hoài H sử dụng điện thoại hiệu Iphone 7, Phạm Minh N sử dụng điện thoại hiệu Iphone 8 màu vàng và Vũ Ngọc T sử dụng điện thoại hiệu Iphone X màu trắng nhưng sau đó, H, N và Tiến đã bán lại cho người khác không rõ nhân thân, địa chỉ; Phạm Thành P sử dụng điện thoại hiệu Sony màu đen không rõ kiểu dáng nhưng sau đó bị hư hỏng nên P đã vứt bỏ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An không thu hồi được để xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, gia đình bị cáo Nguyễn Thành P đã tự nguyện bồi thường số tiền 20.000.000 đồng; Gia đình bị cáo Trương Hoài H đã tự nguyện bồi thường số tiền 13.000.000 đồng; Gia đình bị cáo Vũ Ngọc T đã tự nguyện bồi thường số tiền 20.000.000 đồng; gia đình bị cáo Phạm Minh N bồi thường 15.000.000đồng; gia đình bị cáo Phạm Quốc T bồi thường 15.000.000đồng; gia đình bị cáo Nguyễn Phan Tuấn K bồi thường 20.000.000đồng cho người bị hại Lê Hoàng Trọng N. Tổng cộng là 103.000.000đồng. Tại phiên tòa, phía bị hại yêu cầu các bị cáo phải bồi thường tổng cộng là 240.000.000đồng, mỗi bị cáo phải bồi thường 40.000.000đồng. Do đó, các bị cáo phải bồi thường tiếp tục số tiền còn lại là 137.000.000đồng. Bị cáo nào bồi thường chưa đủ 40.000.000đồng thì phải tiếp tục bồi thường cho đủ 40.000.000đồng. Các bị cáo và gia đình các bị cáo đồng ý bồi thường dân sự cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với các bị cáo chưa thành niên không có tài sản thì cha mẹ của bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo điều 586 Bộ luật dân sự.
- Người bào chữa cho các bị cáo Phạm Minh N và Phạm Quốc T: Thống nhất tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và xử các bị cáo mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát đề nghị.
- Các bị cáo thống nhất nội dung bản Cáo trạng đã truy tố về tội danh, khung hình phạt bị truy tố, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo thống nhất phần bồi thường dân sự và đồng ý bồi thường phần còn lại theo yêu cầu của phía bị hại. Lời nói sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NH ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 07/4/2021, tại khu vực khu dân cư Eco Xuân ở khu phố Đông Nhì, phường Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, Trương Hoài H, Phạm Minh N, Phạm Quốc T, Vũ Ngọc T, Nguyễn Thành P và Nguyễn Phan Tuấn K sử dụng dao tự chế dài khoảng 60cm chém gây thương tích cho Lê Hoàng Trọng N với tỷ lệ tổn thương là 33% (Ba mươi ba phần trăm). Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng chỉ mâu thuẫn nhỏ bị cáo Trương Hoài H đã rủ rê các bị cáo khác rồi sử dụng hung khí nguy hiểm chém bị hại gây thương tích. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, do đó cần xử phạt các bị cáo với mức hình phạt phù hợp với hành vi của từng bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Trương Hoài H, Vũ Ngọc T, Phạm Minh N xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung 2017.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho phía bị hại, bị hại và người đại diện hợp pháp yêu cầu giảm nhẹ cho các bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Các bị cáo Phạm Minh N, Phạm Quốc T, Nguyễn Thành P và Nguyễn Phan Tuấn K phạm tội khi chưa thành niên nên nhận thức pháp luật hạn chế nên Hội đồng xét xử áp dụng điều 91, 101 Bộ luật hình sự cho các bị cáo.
[7] Về đồng phạm: Trong vụ án có vai trò đồng phạm nhưng đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công cụ thể. Bị cáo Trương Hoài H là người khởi xướng, xúi giục các bị cáo khác thực hiện tội phạm nên vai trò của H là cao nhất, bị cáo N lá người trực tiếp gây thương tích cho bị hại nên vai trò của N xếp sau bị cáo H, các bị cáo còn lại có vai trò ngang nhau.
[8] Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.
[9] Người bào chữa cho các bị cáo nêu lên nguyên nhân điều kiện hoàn cảnh của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên là không phù hợp với tính chất, hành vi mà các bị cáo thực hiện nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[0] Đối với đối tượng có tài khoản Messenger “Phương Vy” nhờ Trương Hoài H giúp đánh Lê Hoàng Trọng N, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo pháp luật.
[11] Về trách nhiệm dân sự: Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, gia đình bị cáo Nguyễn Thành P đã tự nguyện bồi thường số tiền 20.000.000 đồng; gia đình bị cáo Trương Hoài H đã tự nguyện bồi thường số tiền 13.000.000 đồng; gia đình bị cáo Vũ Ngọc T đã tự nguyện bồi thường số tiền 20.000.000 đồng; gia đình bị cáo Phạm Minh N bồi thường 15.000.000đồng; gia đình bị cáo Phạm Quốc T bồi thường 15.000.000đồng; gia đình bị cáo Nguyễn Phan Tuấn K bồi thường 20.000.000đồng cho người bị hại Lê Hoàng Trọng N. Tổng cộng là 103.000.000đồng. Tại phiên tòa, phía bị hại yêu cầu các bị cáo phải bồi thường tổng cộng là 240.000.000đồng, mỗi bị cáo phải bồi thường 40.000.000đồng. Do đó, các bị cáo phải bồi thường tiếp tục số tiền còn lại là 137.000.000đồng. Bị cáo nào bồi thường chưa đủ 40.000.000đồng thì phải tiếp tục bồi thường cho đủ 40.000.000đồng. Các bị cáo và gia đình các bị cáo đồng ý bồi thường dân sự cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với các bị cáo chưa thành niên không có tài sản thì cha mẹ của bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo điều 586 Bộ luật dân sự.
[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Trương Hoài H và bị cáo Vũ Ngọc T.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58; các Điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Phạm Minh N.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; các Điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Thành P, Phạm Quốc T và Nguyễn Phan Tuấn K.
- Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố các bị cáo Trương Hoài H, Nguyễn Thành P, Phạm Minh N, Vũ Ngọc T, Phạm Quốc T và Nguyễn Phan Tuấn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt bị cáo Trương Hoài H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2022.
- Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2022.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành P 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2022.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Phan Tuấn K 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2022.
- Xử phạt bị cáo Phạm Minh N 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2022
- Xử phạt bị cáo Phạm Quốc T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Trương Hoài H bồi thường 27.000.000đồng; bị cáo Vũ Ngọc T bồi thường 20.000.000đồng; bị cáo Nguyễn Thành P bồi thường 20.000.000đồng; bị cáo Nguyễn Phan Tuấn K bồi thường 20.000.000đồng cho Lê Hoàng Trọng N (do bà Lê Thị Kim Ánh) đaih diện.
Buộc ông Phạm Phước T và bà Võ Thị Thanh L (là cha, mẹ bị cáo Phạm Minh N) bồi thường 25.000.000đồng cho Lê Hoàng Trọng N (do bà Lê Thị Kim Ánh) đại diện.
Buộc ông Phạm Minh P và bà Lê Thụy Đan V (là cha, mẹ bị cáo Phạm Quốc T) bồi thường 25.000.000đồng cho Lê Hoàng Trọng N (do bà Lê Thị Kim Ánh) đại diện.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
3. Về án phí: Các bị cáo Trương Hoài H, Nguyễn Thành P, Phạm Minh N, Vũ Ngọc T, Phạm Quốc T và Nguyễn Phan Tuấn K, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Trương Hoài H phải chịu 1.350.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Vũ Ngọc T phải chịu 1.000.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thành P phải chịu 1.000.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Phan Tuấn K phải chịu 1.000.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Phạm Phước T và bà Võ Thị Thanh L phải chịu 1.250.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Phạm Minh P và bà Lê Thụy Đan V phải chịu 1.250.000đồng án phí dân sự sơ thẩm
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bào chữa cho các bị cáo chưa thành niên, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nH:
| - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND, CA thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Chánh án (để báo cáo); - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thiệu Văn Kết Em |