- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N được ly hôn anh Bùi Dương M.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 112/2023/HNGĐ-ST Ngày 09-6-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Minh Huế
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Đắc Hân
Ông Bùi Đức Khoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị N; Nơi ĐKTT: Thôn H, xã H1, huyện T, thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn T1, xã Q, huyện Q1, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
- Bị đơn: Anh Bùi Dương M; Nơi cư trú: Thôn H, xã H1, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện, tại Bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Lê Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Dương M chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2017 do tự nguyện có được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục truyền thống ở địa phương, đến ngày 04 tháng 5 năm 2020, chị và anh M đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Q, huyện Q1, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi cưới, chị về chung sống cùng gia đình anh M ở thôn H, xã H1, huyện T, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 5 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, anh M mải chơi không quan tâm đến cuộc sống gia đình, chị có góp ý nhưng anh M không tiếp thu, sửa chữa mà có lời nói xúc phạm chị và gia đình chị. Mâu thuẫn đã được gia đình hai bên nội, ngoại khuyên ngăn hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên từ tháng 5 năm 2022 đến nay, chị đã bỏ về cư trú cùng với bố mẹ đẻ chị ở thôn T1, xã Q, huyện Q1, tỉnh Thanh Hóa. Từ khi chị bỏ đi đến nay, anh M không đến tìm chị, chị cũng không lần nào trở về đoàn tụ cùng anh M. Từ tháng 5 năm 2022 đến nay, chị và anh M sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh M.
Về con chung: Chị và anh Bùi Dương M có hai chung là Bùi Thị Kim N, sinh ngày 28 tháng 01 năm 2018 và Bùi Dương Quốc A, sinh ngày 19 tháng 9 năm 2020. Từ khi chị bỏ về cư trú cùng bố, mẹ đẻ đến nay, hai con chung do chị trực tiếp nuôi dưỡng, anh M không lần nào đến thăm nom các con, cũng không gửi tiền cho chị để nuôi các con ăn học. Chị đề nghị Tòa án giao hai con cho chị nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện tại chị làm phiên dịch tiếng Trung tự do cho người Trung Quốc tại tỉnh Thanh Hóa thu nhập từ 10 đến 15 triệu đồng một tháng, còn anh M làm thợ xây thu nhập từ 06 đến 08 triệu đồng một tháng. Chị còn được sự giúp đỡ của bố, mẹ đẻ chị trong việc trông nom, chăm sóc đưa đón con chung đi học.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Bùi Dương M: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh M để anh M đến Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên giải quyết việc chị Lê Thị N xin ly hôn nhưng anh M đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã không chấp hành đúng quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Lê Thị N được ly hôn anh Bùi Dương M. Về con chung: Giao các con chung Bùi Thị Kim N, sinh ngày 28 tháng 01 năm 2018 và Bùi Dương Quốc A, sinh ngày 19 tháng 9 năm 2020 cho chị Lê Thị N nuôi dưỡng; Không giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con và tài sản. Chị Lê Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Lê Thị N có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Bùi Dương M. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1, Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Bùi Dương M hiện đang cư trú tại thôn H, xã H1, huyện T, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
Về việc vắng mặt đương sự: Bị đơn anh Bùi Dương M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên tiến hành xét xử vắng mặt anh Bùi Dương M.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N và anh Bùi Dương M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q1, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 04 tháng 5 năm 2020, nên theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, đây là hôn nhân hợp pháp.
Tuy anh Bùi Dương M không đến Tòa án, nên không có quan điểm của anh M về việc chị Lê Thị N xin ly hôn, nhưng căn cứ lời khai của nguyên đơn, căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ cơ sở xác định: Quá trình chung sống, chị Lê Thị N và anh Bùi Dương M đã phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau. Xét quan hệ hôn nhân của chị Lê Thị N và anh Bùi Dương M là không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đề nghị xin được ly hôn của chị Lê Thị N đối với anh Bùi Dương M.
Về con chung: Chị Lê Thị N và anh Bùi Dương M có hai con chung là Bùi Thị Kim N, sinh ngày 28 tháng 01 năm 2018 và Bùi Dương Quốc A, sinh ngày 19 tháng 9 năm 2020. Chị N đề nghị Tòa án giao hai con chung cho chị nuôi dưỡng. Anh M không có quan điểm về con chung. Xét thấy, hiện tại chị N là phiên dịch tiếng Trung còn anh M là thợ xây, nên khả năng và điều kiện nuôi dưỡng con chung của chị N và anh M như nhau. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, anh M đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng trốn tránh không đến Tòa án, không có quan điểm về việc nuôi con, nên để đảm bảo sự ổn định cần giao hai con chung cho chị N nuôi dưỡng.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Bùi Dương M không có quan điểm về việc cấp dưỡng nuôi con, nên Tòa án không giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, khi nào các đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
Về tài sản chung: Chị Lê Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Bùi Dương M không có quan điểm về vấn đề tài sản. Nên Tòa án không xem xét, giải quyết về vấn đề tài sản, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị N là nguyên đơn nên chị Lê Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị N và anh Bùi Dương M được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn pháp luật quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N được ly hôn anh Bùi Dương M.
2. Về con chung: Giao các con chung Bùi Thị Kim N, sinh ngày 28 tháng 01 năm 2018 và Bùi Dương Quốc A, sinh ngày 19 tháng 9 năm 2020 cho chị Lê Thị N tiếp tục nuôi dưỡng đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Bùi Dương M không có quan điểm về việc cấp dưỡng nuôi con, nên Tòa án không giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, khi nào các đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
4. Về tài sản chung: Chị Lê Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Bùi Dương M không có quan điểm về vấn đề tài sản. Nên Tòa án không xem xét, giải quyết về vấn đề tài sản, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
5. Về án phí: Chị Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn chị Lê Thị N đã nộp theo Biên lai thu tiền số 8474 ngày 09 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên. Chị Lê Thị N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - VKSND huyện Thủy Nguyên; - Chi cục THA DS huyện Thủy Nguyên; - UBND xã Q; huyện Q1, tỉnh Thanh Hóa (ĐKKH ngày 04 tháng 5 năm 2020); - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trương Minh Huế |