- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Bé N yêu cầu ly hôn với ông Phan Quốc H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bé N đối với ông Phan Quốc H.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU Bản án số: 112/2023/HNGĐ-ST Ngày: 10/10/2023 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Danh Tuất.
2. Bà Phùng Thị Khánh Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 10 tháng 10 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 221/2023/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2023 về “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 58/2023/QĐST – HNGĐ ngày 21 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bé N, sinh năm: 1978 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bị đơn: Ông Phan Quốc H, sinh năm: 1976 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bé N trình bày:
Bà Trần Thị Bé N1 và ông Phan Quốc H xây dựng gia đình vào năm 1999 nhưng đến năm 2018 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang, hôn nhân là trên cơ sở tự nguyện.
Cuộc sống chung giữa bà N1 và ông H hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Bà Nhỏ và ông H đã cố gắng giải quyết những mâu thuẫn giữa vợ chồng nhưng tình hình vẫn không có gì thay đổi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Bà Nhỏ và ông H ly thân từ tháng 6/2023 cho đến nay, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm gì đến nhau, không còn tình cảm cũng không lệ thuộc về kinh tế.
Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà N1 yêu cầu ly hôn với ông Phan Quốc H.
- Về con chung: Bà N1 và ông H có 02 con chung tên Phan Quốc V, sinh ngày 16/02/2000 và Phan Thùy D, sinh ngày 19/6/2004, hiện 02 con chung đã trưởng thành nên bà N1 không có yêu cầu gì.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà N1 và ông H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã triệu tập ông Phan Quốc H đến tham gia hòa giải nhiều lần nhưng ông H vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án lập biên bản về việc vắng mặt đương sự không tiến hành hòa giải được để có cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Tại các phiên tòa ông H đều vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Quan hệ tranh chấp: Bà Nguyễn Thị Bé N yêu cầu ly hôn với ông Phan Quốc H đây là quan hệ pháp luật ly hôn, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Phan Quốc H có nơi cư trú tại huyện X, theo điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Về việc vắng mặt của đương sự: Trong quá trình tham gia tố tụng ông Phan Quốc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông H vắng mặt không có lý do, bà Nguyễn Thị Bé N có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Vì vậy, việc xét xử vắng mặt bà N, ông H là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc tham gia phiên tòa của Kiểm sát viên: Theo Công văn số 134/CV – VKS ngày 14/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, về việc Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa, vì lý do công tác Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc không cử Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Căn cứ quy định tại Điều 232 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử khi Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bé N xây dựng gia đình với ông Phan Quốc H vào năm 1999 nhưng đến năm 2018 mới đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 09/2018 đăng ký ngày 14/3/2018 tại UBND xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang), xét đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Bà N cho rằng cuộc sống chung giữa bà N và ông H hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Bà Nhỏ và ông H đã cố gắng giải quyết những mâu thuẫn giữa vợ chồng nhưng tình hình vẫn không có gì thay đổi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng.
Kết quả xác minh tại địa phương: Về tình trạng hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Bé N và ông Phan Quốc H mâu thuẫn như thế nào địa phương không rõ do không có sự trình báo cũng như hòa giải ở cơ sở. Ông H hiện đang đi về quê nhưng vẫn trở về ấp P để sinh sống vì nhà cửa của ông H đang ở nơi này. Các con của bà N và ông H đã trưởng thành. Nay bà N yêu cầu ly hôn với ông H, địa phương không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu của bà N cho thấy: Sau khi mâu thuẫn xảy ra, lẽ ra bà N và ông H phải cùng tìm cách khắc phục những mâu thuẫn của vợ chồng để cuộc sống chung được hạnh phúc nhưng từ tháng 6/2023 đến nay, bà N và ông H ly thân, mạnh ai nấy sống vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau, theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình – 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”. Sau khi bà N gửi đơn, Tòa án đã tiến hành nhiều phiên hòa giải nhằm đoàn tụ vợ chồng nhưng không thể hòa giải được, ông H vắng mặt không lý do, bà N vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn với ông H .
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, tình cảm vợ chồng giữa bà N và ông H thật sự không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N đối với ông H.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Bé N và ông Phan Quốc H có 02 con chung tên Phan Quốc V, sinh ngày 16/02/2000 và Phan Thùy D, sinh ngày 19/6/2004, hiện 02 con chung đã trưởng thành nên bà N không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Bé N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Áp dụng Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội, bà Nguyễn Thị Bé N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bé N đối với ông Phan Quốc H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bé N được ly hôn với ông Phan Quốc H.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Bé N và ông Phan Quốc H có 02 con chung tên Phan Quốc V, sinh ngày 16/02/2000 và Phan Thùy D, sinh ngày 19/6/2004, hiện 02 con chung đã trưởng thành nên bà N không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Bé N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bé N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà N đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011982 ngày 29/6/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà N đã nộp đủ án phí.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND huyện Xuyên Mộc; - Chi cục THADS huyện Xuyên Mộc; - UBND xã Long Bình, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thảo |