- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng góp hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L; buộc bà Nguyễn Thị Kim N phải có nghĩa vụ trả bà Nguyễn Thị L tổng số tiền 90.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 112/2023/DS-ST Ngày 27 tháng 6 năm 2023 “V/v Tranh chấp Hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tô Ngọc Liêm, bà Phan Thị Nga;
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Dương Duy Tín – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 47/2023/TLST-DS ngày 01 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2023/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 5 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 269/2023/QĐST- DS ngày 29 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L (Hạnh T), sinh năm 1978; địa chỉ: số B, ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang;
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L: Bà Lê Thị C, sinh năm 1962; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (theo Văn bản ủy quyền ngày 20/02/2023 do Văn phòng C1 chứng nhận); có mặt.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1986; địa chỉ: số E, Tổ A, ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Văn T1 (Út H), sinh năm 1983; địa chỉ: số E, Tổ A, ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà L1 người đại diện theo ủy quyền bà Lê Thị C, trình bày: Bà Lê Thị L2 có tên trong sổ hụi là “Chị H1 Thịt”, tham gia 01 dây hụi 5.000.000 đồng, khởi khui vào ngày 01/02/2021 âm lịch, gồm 24 hụi viên, tham gia 01 chân hụi, góp hụi bắt đầu từ ngày 03/02/2021 âm lịch, thỏa thuận nếu hụi viên nào hốt hụi thì phải chi hoa hồng với cho chủ hụi với số tiền là 2.500.000 đồng, bà L2 đã chầu được 21 lần, đến tháng 11/2022 âm lịch ngưng hụi, với tổng số tiền đã chầu là 84.400.000 đồng (tám mươi bốn triệu, bốn trăm nghìn đồng) và yêu cầu tính lãi từ ngày 25/02/2023 với lãi suất là 20% năm theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Chơi cùng dây hụi của bà L2 có bà Lê Kim L3 (L4), tên trong sổ hụi là “Linh Trung” cũng là đương sự yêu cầu giải quyết hụi, bà Nguyễn Thị N1, tên trong sổ hụi là “Chị Hai P”, sinh năm 1972; địa chỉ: ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn T1 vắng mặt, nên không ghi nhận được ý kiến;
Tại phiên tòa:
- Bà Lê Thị C đại diện của nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không có tài liệu, chứng cứ khác giao nộp cho Tòa án chứng minh cho ý kiến, không thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện, xác định về yêu cầu tính lãi: xác định làm tròn là 04 tháng, số tiền được tính là 5.627.792 đồng, đối với yêu cầu buộc liên đới do trên cơ sở xác định các tài liệu, chứng cứ theo văn bản do Tòa án thu thập thì ông T1, bà N có đứng tên chung tài sản, nên là căn cứ xác định là vợ chồng, ngoài ra không có tài liệu nào chứng minh ông T1, bà N sống chung, có quan hệ hôn nhân. Tại phần tranh tụng, đại diện ủy quyền của bà L3 xác định việc kêu hụi, xác định thời gian góp hụi, ghi sổ hụi và yêu cầu góp hụi bà N là người trực tiếp thực hiện, sổ hụi ghi “Út Hiền” vì tại địa phương đều xác định bà N là vợ ông T1, tên ở nhà là Út H, nên mặc định chơi hụi với bà N cũng tên là “Út Hiền” nên việc sổ hụi ghi “Út Hiền” bản thân bà L5 và các hụi viên khác không thắc mắc.
- Bà Nguyễn Thị Kim N, ông Phan Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, nên không gi nhận được ý kiến.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn T1 vắng mặt lần thứ 2, nên đề nghị xét xử vắng mặt.
Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L, buộc bà Nguyễn Thị Kim N có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền nợ hụi 84.400.000 đồng, tính lãi suất theo quy định pháp luật. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L đối với yêu cầu buộc ông Phan Văn T1 cùng liên đới với bà Nguyễn Thị Kim N trả tiền nợ hụi 84.400.000 đồng.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 468, 471 Bộ luật Dân sự xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Thị Kim N hiện đang cư trú trên địa bàn huyện C, giữa bà L, bà N có quan hệ góp hụi, nên Hội đồng xét xử thống nhất quan hệ tranh chấp để giải quyết vụ án là “tranh chấp về Hợp đồng góp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Phan Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông T2.
[1.3] Về việc ủy quyền tham gia tố tụng: Bà L ủy quyền cho bà Lê Thị C phù hợp với quy định tại Điều 85, 86 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên bà C được tham gia tố tụng trong phạm vi được bà L ủy quyền là phù hợp quy định pháp luật tố tụng.
Về nội dung: [2.1] Giữa bà Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Thị Kim N có quan hệ góp hụi (họ) theo đó bà N là chủ hụi, bà L là hụi viên. Quá trình giải quyết vụ án cả bà L và người đại diện theo ủy quyền của bà L khẳng định đã chầu hụi với cho bà N, mặc dù tại sổ hụi ghi tên “Út Hiền”; điều này cũng phù hợp với lời khai của các đương sự khác trong các vụ án đã có yêu cầu khởi kiện tại Tòa án như bà T1, bà L. Theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự; Điều 15, 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ, thì chủ hụi phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền hụi còn thiếu cho hụi viên, nên việc bà L yêu cầu bà N phải có nghĩa vụ thanh toán là phù hợp quy định tại các Điều 351, 352, 357 Bộ luật Dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bà N phù hợp quy định pháp luật tố tụng, nhưng bà N không có ý kiến, đối với yêu cầu khởi kiện của bà L, như vậy việc bà N không có ý kiến là đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Do vậy, có cơ sở xác định việc bà L yêu cầu khởi kiện buộc bà N phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ hụi của dây hụi ngày 01/2/2021 âm lịch, tài liệu chứng cứ là sổ hụi đã được đối chiếu với bản chính, nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà L, buộc bà N phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ hụi là 84.400.000 đồng. [2.2] Về yêu cầu tính lãi: Do tại sổ hụi, các bên không thỏa thuận về lãi, nên đây là khoản tiền không có thỏa thuận về lãi suất theo quy định pháp luật dân sự, tại khoản 1 Điều 5 và khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP quy định, thì tiền lãi được xác định như sau: tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 …. tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả nợ gốc); thời điểm trả nợ được hướng dẫn tại các điều 3,4,5 Nghị quyết này là thời điểm xét xử sơ thẩm…. Do khoản tiền hụi, các bên không có thỏa thuận về lãi, không xác định ngày trả nợ, nhưng bà L có yêu cầu tính lãi kể từ thời điểm nộp đơn khởi kiện ngày 25/02/2023 là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 và phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, nên việc xác định thời điểm trả nợ là ngày xét xử, thời điểm bắt đầu tính lãi là từ ngày 25/02/2023. Do vậy, bà L yêu cầu tính lãi từ ngày 25/02/2023 là có căn cứ, tại phiên tòa bà L và người đại diện thống nhất tính số ngày tính lãi làm tròn là 04 tháng, là có lợi cho bị đơn, nên bà N phải chịu khoản lãi trên số tiền 84.400.000 đồng x 20%/năm x 4 tháng (làm tròn) = 5.627.792 đồng. Do đó, tổng số tiền bà N phải có nghĩa vụ trả cho bà L là: 90.027.792 đồng (gồm tiền gốc: 84.400.000 đồng, tiền lãi trên nợ gốc: 5.627.792 đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về trách nhiệm liên đới: Theo quy định tại Điều 25, 27, 30 Luật Hôn nhân và gia đình, thì vợ chồng phải có nghĩa vụ liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện, nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Tuy nhiên, theo văn bản số 537/CV-UBND ngày 16/6/2023 của Ủy ban nhân dân xã N, huyện C xác định “Kết quả tra cứu sổ đăng ký kết hôn lưu tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C không tìm thấy thông tin đăng ký kết hôn của ông Phan Văn T1 với bà Nguyễn Thị Kim N”, theo các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện ông T1, bà N có đứng tên chung tại các tài sản là quyền sử dụng đất, nhưng đó không phải là tài liệu xác định ông T1, bà N là có quan hệ vợ chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng, việc ông T1, bà N có đăng ký tài sản, có chung sống với nhau, ông T1 đi góp hụi giúp bà L, nên phải có nghĩa vụ liên đới, nhưng tại Điều 288, 289 Bộ luật Dân sự quy định: Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện tòa bộ nghĩa vụ ... nghĩa vụ đối với nhiều người có quyền liên đới là nghĩa vụ mà theo đó mỗi người trong số những người có quyền đều có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Như vậy, bà L xác định việc chầu hụi là chầu cho bà N, bà N là người kêu hụi, ông T1 không có văn bản nào thể hiện ký xác nhận hụi cho bà L, nên việc bà L yêu cầu ông T1 phải thực hiện liên đới với bà N thanh toán là không có cơ sở, nên không chấp nhận.
Về án dân sự sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền có giá ngạch được chấp nhận, nhưng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với yêu cầu dân sự không có giá ngạch không được chấp nhận.
- Bà Nguyễn Thị Kim N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, ông Phan Văn T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự các đương sự có quyền kháng cáo Bản án, quyết định của Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 351, 352, 357, 288, 468, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27, 30 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147, 227, 271, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2020 về hụi, họ, điêu, phường của Chính phủ.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L; buộc bà Nguyễn Thị Kim N phải có nghĩa vụ trả bà Nguyễn Thị L tổng số tiền 90.027.792 đồng (chín mươi triệu, không trăm hai mươi bảy triệu, bảy trăm chín mươi hai đồng) (tron đó gồm tiền gốc: 84.400.000 đồng, tiền lãi trên nợ gốc: 5.627.792 đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu ông Phan Văn T1 phải liên đới với bà Nguyễn Thị Kim N trả nợ cho bà Nguyễn Thị L.
3. Về án phí sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp; hoàn trả cho bà L số tiền 1.810.000 đồng (một triệu, tám trăm mười nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013321 ngày 01/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, bà L đã nộp đủ án phí.
- Bà Nguyễn Thị Kim N chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 4.501.390 đồng (bốn triệu, năm trăm không một nghìn, ba trăm chín mươi đồng), bà N phải có nghĩa vụ nộp án phí tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Ông Phan Văn T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang (1); - VKSND huyện Chợ Mới (2); - Chi cục THADS huyện Chợ Mới (1); - Các đương sự (để thi hành) (2); - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Kiên |