vanban.org

Bản án 112/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 12/04/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/04/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội cố ý gây thương tích (Điều 134 BLHS) - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2022/HS-PT
Ngày: 12-4-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mỹ

Ông Lê Khắc Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Liệt - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23 tháng 3 và ngày 12 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự ph c thẩm thụ lý số: 324/2021/TLPT-HS ngày 24 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Văn H và các đồng phạm. Do c háng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2021/HS-ST ngày 10 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện T.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Văn H , sinh năm 1988; tại tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi cư tr : h m 5, thị trấn Tràm Chim, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 01/12 ( hông biết chữ); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm 1955 (Chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1958 (Chết); có vợ Nguyễn Thị Bạch H, sinh năm 1991 và con: Nguyễn Ph c K, sinh năm 2015; tiền án: hông, tiền sự: Ngày 07/11/2019, bị Ủy ban nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định số: 111, xử phạt vi phạm hành chính số tiền 7.500.000 đồng về hành vi tổ chức đánh bạc, nộp phạt ngày 11/11/2019; nhân thân: Ngày 08/11/2017, bị Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định số: 88, xử phạt vi phạm hành chính số tiền 7.500.000 đồng về hành vi tổ chức đánh bạc, nộp phạt xong ngày 17/11/2017; Tạm giam ngày 25/3/2021; Lệnh cấm đi hỏi nơi cư tr số 54, ngày 03 tháng 10 năm 2020 của Công an huyện T; Quyết định về việc bảo lĩnh số 02, ngày 08 tháng 6 năm 2021 của Công an huyện T. Bị cáo hiện đang tại ngoại và c mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn T , sinh năm 2000; tại tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi cư tr : h m 5, thị trấn Tràm Chim, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1955 (Chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1958 (Chết); gia đình c 07 người, bị cáo là người thứ 07; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam ngày 02/6/2021. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp c mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Văn N (tên gọi hác: Mười N) sinh năm1968; tại tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi cư tr : h m 5, thị trấn Tràm Chim, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1929 (Chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1930 (Chết); có vợ Nguyễn Thị L, sinh năm 1976 và 05 người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: Không. Lệnh cấm đi hỏi nơi cư tr số 51, ngày 14 tháng 9 năm 2020 của Công an huyện T. Bị cáo hiện đang tại ngoại và c mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Hoài H, Nguyễn Chí T, Trần T H, Nguyễn Quốc K, Nguyễn H K, Nguyễn Văn L không kháng cáo và Vi n ki m sát không kháng nghị.

NỘI DUNG V ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt như sau:

Trưa ngày 06/4/2020, Nguyễn Chí T (T Che) ngồi uống nước cùng với Nguyễn Văn L, Trần T H (H Nhỏ), Nguyễn H K (H Neymar) nhận được điện thoại của T (bạn của T, chưa rõ họ, địa chỉ, chỉ biết nhà ở huyện Cao Lãnh) ể chuyện Phạm Phước Lách bị Nguyễn Văn H (H Anh) đánh. T gọi điện thoại cho Nguyễn Quốc K, Trần Châu Q (Châu Hạnh) và bạn của Q ( hông rõ họ và địa chỉ cụ thể) đi vào thị trấn Tràm Chim, mục đích đến nhà gặp H n i chuyện hông đánh Lách nữa do Lách là bạn với T.

Trong lúc T điện thoại cho K thì Trần Hoài H ngồi cạnh bên nghe nên xin đi theo K, K đồng ý và đi về nhà lấy 02 dao tự chế để vào giỏ xách đệm, thường dùng để đựng gà (giỏ gà) đưa cho H giữ, K điều hiển xe mô tô chở H ngồi phía sau đến gặp T để cùng đi vào T. Khi đi đến ngã 3 xã An Long, Phạm Minh Tiến (Tiến Gà) thấy nên tự chạy theo sau.

L điều hiển xe chở T, K điều hiển xe chở H, H điều hiển xe chở K, Q chở bạn Q và Tiến điều hiển xe một mình, tất cả cùng chạy đến nhà Lách tập T người lại, l c này H lấy từ trong giỏ gà ra 01 dao tự chế cất vào ống tay áo hoác bên phải (K và những người hác hông thấy), riêng K thấy nên đi lại lấy từ trong giỏ gà của H 01 dao tự chế còn lại ẹp vào thân người, lấy tay che lại nên H và những người đi chung hông biết. Sau đ cả nh m gặp Tuấn Đen nhờ dẫn đường lại nhà H do T hông biết nhà. Tuấn Đen dẫn nh m T đến nhà H ngụ hu dân cư 3B thuộc h m 5, thị trấn Tràm Chim chỉ nhà rồi bỏ đi.

Khi đến nhà H hoảng 14 giờ 30 ph t cùng ngày, xe L chở T, K chở H, H chở K dừng để xe ở đường nhựa trước nhà H, Tiến dừng xe cách nhà H hoảng 100m, Q và bạn Q hông biết dừng xe ở đâu.

H đang ngồi n i chuyện với Nguyễn Văn C (H Em) ở ghế đá phía trước cửa rào nhà. T xuống xe đi đến chỗ H ngồi (cách ghế đá ngoài cùng hoảng 1,5 mét), H đi sau lưng T, K đi sau lưng H, H và K đứng ở ngoài xe, L điều hiển xe đi lại chỗ Tiến. T nói với H: “Sao anh em mà ông đánh ổng?” (ý n i H đánh Lách), H trả lời: “N n i tao làm đờ lô”. Cùng l c này Nguyễn Văn T (T Em) đang tắm gà bên hông trong nhà thấy nhóm T đem theo giỏ gà và nghe tiếng “ ẻng” từ phía nh m T nên nghĩ là hung khí đánh nhau, T chạy vào bên hông nhà nhặt gạch ống (dùng để ê bội gà) ném vào phía nhóm T đang đứng bên ngoài cổng hàng rào nhưng hông tr ng ai do tr ng vào hàng rào bên trong nhà. Liền l c này H bước lên đứng bên trái trước T (cách T khoảng 0,5 mét) lấy trong ống tay áo hoác ra 01 cây dao tự chế cầm trên tay phải. Thấy vậy H và C cùng chạy vào trong cửa rào, H đứng ngay cổng rào, C đứng bên trong hàng rào cách H hoảng 1 mét, H chạy lại bội gà bên trái trước nhà (hướng từ nhà nhìn ra) lấy 01 cây sắt vuông đánh qua lại và ném cây sắt vuông vào nh m T, rồi chạy qua bên phải g c hông nhà. T chạy vào bên hông nhà lấy cây rựa (cán gỗ, lưỡi bằng im loại, c hình cong) trên bội gà chạy ra g c hông nhà mục đích muốn đánh trả nh m T tiếp H và C thì H chạy lại giật cây rựa trên tay T, cầm trên tay phải chạy lại đứng tại giữa cổng rào.

Khi đ H cầm dao tự chế bước lên đứng ngoài sát cổng rào, đối diện H (cách H hoảng 1,5 mét) chém qua lại với H. T đứng sau lưng bên trái của H (cách H hoảng 2 mét), K chạy ra xe tính lấy thêm cây dao tự chế trong giỏ đệm nhưng hông thấy nên lấy 01 n n bảo hiểm chạy vào đứng sau lưng H. Trong lúc H và H đang chém thì C và T đứng bên trong hàng rào bên hông nhà lấy gạch ống và đá (dùng ê chuồng gà) ném ra nhóm T nên T lấy gạch đá ném lại chỗ C và T. H và K đi qua đứng tại g c đường nhà H lấy gạch đá ném vào chỗ C và T.

H và H chém nhau qua lại hoảng 1 ph t thì H bị H chém tr ng cổ tay và bàn tay phải (dao H cầm còn dính trên tay phải nên H dùng tay trái lấy ra làm dao rơi xuống đất). K thấy tay H bị thương nên cầm n n bảo hiểm quơ qua lại rồi nhặt cây dao của H quơ qua lại để H không chém H nữa. H đi lùi ra đường n i với T là bị thương; T nhìn thấy nên êu H và K đi ra chỗ để xe.

K lùi ra xe, H đ ng cửa hàng rào lại, chọi cây rựa đang cầm trên tay về hướng T, tiếp tục chạy lại chỗ chuồng gà bên trái trước nhà (hướng nhìn từ nhà ra đường) lấy và chọi ra 03 cây sắt vuông, 01 cây sắt tròn vào nh m T.

Khi đ K và H đang đứng chỗ để xe, H và K thấy H bị thương nên nhìn N qua H thấy ông Nguyễn Văn N (Mười N) nhặt 01 cục đá ném tr ng mặt làm K té xỉu. K cầm dao tự chế đuổi theo ông N nhưng hông được.

Nh m của H và nh m của T vẫn tiếp tục ném gạch đá qua lại hoảng 3 - 4 phút thì T nghe c 02 đến 03 tiếng nổ lớn và đôi bên cự cãi nhau. Sau đ hai bên nghỉ chọi gạch đá, L điều hiển xe chạy đến chở T đi về cùng cả nh m, T lấy theo cây rựa mà H cầm chém H mục đích để sử dụng nếu nh m H đuổi theo. Khi đi về đến ấp Ph Thọ A, xã Ph Thọ, do K và H đều bị thương nên nh m T chở cả hai đến Trạm y tế xã Ph Thọ để cấp cứu.

Vật chứng thu giữ chưa xử lý gồm:

- 01 cây rựa dài 78cm, phần lưỡi bằng im loại, c hình cong, ích thước 31,7cm x 6cm, phần cán bằng gỗ tròn, màu vàng, ích thước 46,3cm x 3cm; 04 cây im loại (sắt) hình vuông, ích thước 80 x 3cm; 01 cây im loại (sắt) hình tròn, ích thước 100cm x 3cm; 05 cục gạch ống màu đỏ; nhiều mãnh vỡ của gạch, đá; 01 áo thun tay ngắn, màu xám, trước ngực c chữ ADIDAS. H thừa nhận các hung hí trên của H để đánh, ném nhau với nh m T và áo xám là áo H mặc hi đánh nhau. Riêng cây rựa dài 78cm là do T tự giao nộp cho Cơ quan điều tra, H trình bày hông phải cây rựa mà H dùng để chém nhau với H; Tại Biên bản nhận dạng ngày 24/01/2021, 26/01/2021, ngày 30/01/2021 Nguyễn Quốc K, Trần T H, Nguyễn Chí T hẳng định cây rựa T tự giao nộp là cây rựa mà H dùng để chém qua lại với H vào ngày 06/42020 tại nhà H thuộc h m 5, thị trấn Tràm Chim, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- 01 cây gậy 3 h c bằng im loại màu đen, ích thước 51cm x 2,5cm. Đoạn thứ nhất (phần cán) bằng im loại, nhựa đen bao bên ngoài, ích thước 19cm x 2,5cm; Đoạn thứ 2 (phần thân) bằng im loại màu đen, ích thước 16cm; Đoạn thứ 3 bằng im loại, màu đen, ích thước 16cm thu tại hiện trường chưa xác định của ai.

- 02 cây dao tự chế của K; Trong đ 01 cây dao tự chế bằng im loại, lưỡi phía dưới bén, lưỡi bên trong bị cùng, lưỡi dao ích thước 43cm x 4cm, cán dao dài 15,5cm x đường ính 3cm; 01 cây dao tự chế dài 60cm; phần lưỡi c mũi nhọn cong bằng im loại màu nâu, ích thước 45cm x 3,5cm; phần cán bằng im loại tròn màu xám, ích thước 15cm x 2,5cm.

- 01 cây cưa (loại cưa nước đá) dài 73cm, phần lưỡi bằng im loại màu nâu, 01 cạnh bằng, 01 cạnh c hình răng cưa, ích thước 53cm x 5cm, phần cán bằng im loại tròn màu nâu, ích thước 20cm x 3,5cm; 01 cây cưa dài 74,5cm, phần lưỡi im loại màu nâu, 01 cạnh bằng, 01 cạnh c hình răng cưa (loại cưa nước đá, ích thước 53cm x 7cm, phần cán bằng im loại hình tròn màu xám, ích thước 21,5 x 3cm, chưa xác định được của ai.

Riêng cục đá ông N ném trúng K hông thu hồi được. Đã truy tìm nhưng hông tìm được.

Tại Kết luận giám định số: 321/KL-KTHS, ngày 20/4/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, ết luận: Dấu vết dính trên cây rựa gửi giám định là máu người, do dấu vết ít nên hông xác định được nh m máu. Máu ghi thu của ông Trần Hoài H thuộc nh m máu A.

Tại Bản ết luận giám định số: 132/Tgt, ngày 23/4/2020 của T tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp ết luận: tỷ lệ thương tật của Nguyễn Quốc K là: 12% tại thời điểm giám định. Sẹo vết thương phần mềm do vật tày gây nên. Cơ chế hình thành do ngoại lực tác động trực tiếp gây nên.

Tại Bản ết luận giám định số: 133/Tgt, ngày 23/4/2020 của T tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp ết luận: tỷ lệ thương tật của Trần Hoài H là: 43% tại thời điểm giám định.Tổn thương trên do vật sắc tác động gây nên thương tích, chiều hướng tác động từ trên xuống.

Tại Bản Kết luận giám định Pháp y về thương tích số: 363/Tgt, ngày 17/11/2020 của T tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp, ết luận tỷ lệ thương tật của Nguyễn Văn H là: 1%, tại thời điểm giám định. Tổn thương trên do vật sắc bén gây nên, chiều hướng tác động trực tiếp.

Tại Bản Kết luận giám định Pháp y về thương tích số: 362/Tgt, ngày 17/11/2020 của T tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp, ết luận tỷ lệ thương tật của Nguyễn Văn T là: 1%, tại thời điểm giám định. Tổn thương trên do vật tày gây nên. Cơ chế hình thành do ngoại lực tác động từ ngoài vào trong.

Tại Công văn số: 199/ĐN-UBND, ngày 07/6/2021 của Ủy ban nhân dân thị trấn Tràm Chim xác định vụ việc trên gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, gây hoang mang và bức x c trong quần ch ng nhân dân. Nhằm đảm bảo tình hình an ninh trật tự tại địa phương cũng như trấn an dư luận trong quần ch ng nhân dân trên địa bàn, Ủy ban nhân dân thị trấn Tràm Chim, huyện T đề nghị xử lý nghiêm các đối tượng trên theo quy định của pháp luật.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2021/HS-ST ngày 10/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện T đã quyết định:

- Căn cứ Điều 17; Điều 58; điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, e, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H (H Anh), Nguyễn Văn T (T Em) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H (H Anh) 03 (ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính ể từ ngày bị cáo chấp hành án, được hấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 25/3/2021 đến ngày 08/6/2021.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T (T Em) 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính ể từ ngày bị cáo bị tạm giam 02/6/2021.

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, e, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N (Mười N) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính ể từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên phạt Trần Hoài H, Nguyễn Chí T, Nguyễn Quốc K 02 năm 03 tháng tù cùng về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Nguyễn Văn C, Trần T H, Nguyễn H K, Nguyễn Văn L 02 năm tù nhưng cho các bị cáo hưởng án treo cùng về tội “Gây rối trật tự công cộng”; tuyên về x lý vật ch ng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 22 tháng 11 năm 2021, các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn N c đơn háng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo với tội danh, điều hoản của tội danh và mức hình phạt nêu trên là c căn cứ, đ ng người, đ ng tội, đ ng quy định pháp luật. Xét mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo có đơn háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cung cấp thêm xác giấy nhận gia đình h hăn nhưng các tình tiết này đã được cấp sơ thẩm xem xét nên đề nghị Hội đồng xét xử hông chấp nhận háng cáo của các bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo.

Cácbị cáothừanhận hànhviphạm tội, hôngtranh luận mà chỉxingiảm nhẹ hìnhphạt.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa ph c thẩm, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời hai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời hai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 14 giờ 30 ph t ngày 06/4/2020, bị cáo H đang ngồi n i chuyện với Nguyễn Văn C (H Em) ở ghế đá phía trước cửa rào nhà, Nguyễn Văn L chở Nguyễn Chí T, Nguyễn Quốc K chở Trần Hoài H, Trần T H chở Nguyễn H K dừng xe ở đường nhựa trước nhà H. T xuống xe đi đến chỗ H ngồi (cách ghế đá ngoài cùng hoảng 1,5 mét), H đi sau lưng T, K đi sau lưng H, H và K đứng ở ngoài xe. T n i với bị cáo H: “Sao anh em mà ông đánh ổng?” (ý n i H đánh Lách), bị cáo H trả lời: “N n i tao làm đờ lô”. Cùng l c này Nguyễn Văn T (T Em) đang tắm gà trong nhà, thấy nh m T đem theo giỏ gà và nghe tiếng “ ẻng” từ phía nh m T nên nghĩ là hung hí đánh nhau, T chạy vào bên hông nhà, nhặt gạch ống (dùng để ê bội gà) ném vào phía nh m T đang đứng bên ngoài cổng hàng rào nhưng hông tr ng ai (do trúng vào hàng rào bên trong nhà). Liền l c này, H bước lên đứng bên trái trước T (cách T hoảng 0,5 mét) lấy trong ống tay áo hoác ra 01 cây dao tự chế cầm trên tay phải. Thấy vậy, H và C cùng chạy vào trong cửa rào, H đứng ngay cổng rào, C đứng bên trong hàng rào cách H hoảng 1 mét, H chạy lại bội gà lấy 01 cây sắt vuông, đánh qua lại và ném cây sắt vuông vào nhóm T, rồi chạy qua bên phải g c hông nhà. T chạy vào bên hông nhà lấy cây rựa (cán gỗ, lưỡi bằng im loại, c hình cong) trên bội gà, chạy ra g c hông nhà mục đích muốn đánh trả nh m T tiếp H và C thì H chạy lại giật cây rựa trên tay T, cầm trên tay phải chạy lại đứng tại giữa cổng rào.

Khi đ , H cầm dao tự chế bước lên đứng ngoài sát cổng rào, đối diện H (cách hoảng 1,5 mét) chém qua lại với H. H và H chém nhau qua lại hoảng 1 ph t thì H bị H chém tr ng cổ tay và bàn tay phải (dao H cầm còn dính trên tay phải nên H dùng tay trái lấy ra làm dao rơi xuống đất). K thấy tay H bị thương nên cầm n n bảo hiểm quơ qua, quơ lại rồi nhặt cây dao của H quơ để H không chém H nữa. H đi lùi ra đường n i với T là bị thương, T nhìn thấy nên êu H và K đi ra chỗ để xe.

K lùi ra xe, H đ ng cửa hàng rào lại, chọi cây rựa đang cầm trên tay về hướng T, tiếp tục chạy lại chỗ chuồng gà bên trái trước nhà (hướng nhìn từ nhà ra đường) lấy và chọi ra 03 cây sắt vuông, 01 cây sắt tròn vào nh m T.

Khi đ K và H đang đứng chỗ để xe, H và K thấy H bị thương nên nhìn N qua , thấy ông Nguyễn Văn N (Mười N) nhặt 01 cục đá ném tr ng mặt làm K té xỉu.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo H, T và N là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức hỏe của người hác một cách trái pháp luật. Các bị cáo là người đã thành niên, c đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà các bị cáo c hành vi gấy bị thiệt hại về sức hỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định của K là 12% và H là 43%, chứng tỏ việc phạm tội của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c hoản 3 Điều 134 và xét xử bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ hoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là c căn cứ, đ ng người, đ ng tội. Xét mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và đã xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo. Sau hi xét xử sơ thẩm các bị cáo háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cung cấp các tình tiết giảm nhẹ như sau: Bị cáo Nguyễn Văn H cung cấp xác nhận gia đình h hăn, bị cáo là người đang nuôi con vì vợ đã ly hôn, bản thân bị cáo đang là người bị bệnh cáo huyết áp và điều trị ngoại tr tại bệnh viện; Bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Văng N cung cấp xác nhận gia đình h hăn và là lao động chính trong gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy đây là các tình tiết mới phát sinh tại cấp ph c thẩm nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn N. Riêng đối với bị cáo Nguyễn Văn T thì mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là mức thấp nhất của hung hình phạt liền ề nên hông giảm hình phạt đối với bị cáo T.

[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện iểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N là c căn cứ và phù hợp một phần, nhưng với các nhận định trên thì Hội đồng xét xử cần giảm một phần hình phạt đối với bị cáo H và bị cáo N.

[5] Do háng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn N được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự ph c thẩm theo luật định.

Do háng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự ph c thẩm theo luật định.

Các phần hác của quyết định bản án sơ thẩm hông c háng cáo, háng nghị có hiệu lực ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Vì các l trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ điểm a hoản 1 Điều 355, 356 và Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

1. Chấp nhận háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn N. Sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt và giảm hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn N.

Không chấp nhận háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T. Giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

2. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H (H Anh), Nguyễn Văn T (T Em) và Nguyễn Văn N (Mười N) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ Điều 17; Điều 58; điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, e, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H (H Anh) 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính ể từ ngày bị cáo chấp hành án, được hấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 25/3/2021 đến ngày 08/6/2021.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T (T Em) 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính ể từ ngày bị cáo bị tạm giam 02/6/2021.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, e, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính ể từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về án phí: Áp dụng hoản 2 Điều 135; hoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự ph c thẩm.

Các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn N hông phải chịu án phí hình sự ph c thẩm.

4. Các phần hác của quyết định bản án sơ thẩm hông c háng cáo, háng nghị c hiệu lực ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Bản án ph c thẩm c hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ