vanban.org

Bản án 112/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trần Thị P yêu cầu được ly hôn với ông Phan Văn K"
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:112/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 17/02/2022
V/v “ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Lê

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Tốt

2. Ông Nguyễn Văn Quản

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Khôi, cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy-Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 17 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1199/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2020 về việc “Vụ án ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 642/2021/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2022/QĐST-HNGĐ ngày ngày 19 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị P, sinh năm 1994;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 11/2, Tổ 5, Khu phố 3, phường t, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Ông Phan Văn K, sinh năm 1993;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 498/9, đường T, phường T, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Bà Trần Thị P và ông Phan Văn K tự nguyện kết hôn đăng ký theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42, do Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/6/2013. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, khiến cho cuộc sống vợ chồng không còn được hòa hợp như trước, vợ chồng đã ly thân với nhau nhiều năm. Đến nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn hai bên trầm trọng không có khả năng hàn gắn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Phan Văn K.

Về con chung: Có một người con chung là trẻ Phan Hữu PH, sinh ngày 11/11/2014, bà yêu cầu chăm sóc giáo dục trẻ Phan Hữu PH, bà không yêu cầu ông Phan Văn K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không có.

Nợ chung: không có.

* Ông Phan Văn K không đến Tòa, cũng không gởi văn bản trả lời về nội dung đơn kiện mặc dù đã được tòa tống đạt thông báo thụ lý, triệu tập và thông báo tham gia phiên họp cung cấp chứng cứ và hòa giải đến tòa để giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, người tham gia tố tụng gồm nguyên đơn, chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

[1] Đây là vụ kiện ly hôn. Do bị đơn đang cư ngụ tại Quận 12 nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã niêm yết hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa tại địa chỉ cư trú của bị đơn. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

- Về yêu cầu của các đương sự:

Bà Trần Thị P và ông Phan Văn K tự nguyện kết hôn vào ngày 06/6/2013 Giấy chứng nhận kết hôn số 42, do Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/6/2013. Như vậy theo quy định tại Điều 5, Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quan hệ hôn nhân và gia đình của bà P và ông K có giá trị pháp lý.

Ngày 10/12/2020, BCH phụ nữ phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12 trả lời về tình trạng hôn nhân của bà P và ông K như sau “Hiện bà P và ông K không còn chung sống với nhau. Hiện tại 2 vợ chồng đã sống ly thân khoảng 6 năm. Con trai Phan Hữu PH hiện do bà P nuôi dưỡng, không nắm được các thông tin của bà P”.

Công an phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12 có xác nhận ông Phan Văn K hiện đang tạm trú tại 498/9, Tổ 7, Khu phố 2, phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án đã thông báo triệu tập ông K đến Tòa để tham gia phiên tòa xét xử bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nhưng ông K không tham gia. Từ đó có cơ sở để khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà P và ông K là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà P là có cơ sở, nên chấp nhận.

Về con chung: Có một người con chung là trẻ Phan Hữu PH, sinh ngày 11/11/2014, bà P yêu cầu chăm sóc giáo dục trẻ Phan Hữu PH, bà không yêu cầu ông Phan Văn K cấp dưỡng nuôi con.

Ủy ban nhân dân phường Tân Chánh Hiệp có xác minh về điều kiện nuôi dưỡng con như sau “Con trai Phan Hữu PH hiện do bà P nuôi dưỡng” . Tại bản tự khai ngày 23/12/2021 trẻ Phan Hữu PH trình bày có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó để đảm bảo sự ổn định trong việc nuôi trẻ và nguyện vọng của trẻ, nên yêu cầu nuôi con của bà P là có cơ sở để chấp nhận.

- Về tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng (ba trăm ngàn) đồng do bà Trần Thị P phải nộp, được cấn trừ vào biên lai thu số AA/2019/0105599 ngày 26/11/2020 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Thị P đã nộp đủ án phí.

Bôûi caùc leõ treân;

QUYEÁT ÑÒNH:

- Áp dụng Điều 28, 35, 39, khoản 4 Điều 91, 147, 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 8, 9, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị P được ly hôn với ông Phan Văn K.

-Về con chung: Có một người con chung là trẻ Phan Hữu PH, sinh ngày 11/11/2014, bà Trần Thị P được quyền chăm sóc giáo dục trẻ Phan Hữu PH, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Phan Văn K, cho đến khi một trong các bên đương sự có yêu cầu khác.

Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng; không bên nào được quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung

-Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

-Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

2. Giấy chứng nhận kết hôn số 42, do Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/6/2013 không còn hiệu lực.

3. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Trần Thị P phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn) đồng, được cấn trừ vào biên lai thu số AA/2019/0105599 ngày 26/11/2020 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Thị P đã nộp đủ án phí.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.

Cỡ chữ