vanban.org

Bản án 112/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 20/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điểm h, o khoản 1 Điều 52; Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Về trách nhiệm hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "lê Nhựt Duy- Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ su…"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điểm h, o khoản 1 Điều 52; Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 112/2021/HS-ST
Ngày 20-4-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Sỹ Trứ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Kim Thu.

Bà Lê Thị Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Loan – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến- Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 99/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê Nhựt D (tên gọi khác: D Não), sinh năm 1998 tại tỉnh Bạc Liêu; nơi cƣ trú: Ấp T, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M và bà Bùi Thanh B; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Mỹ H (không đăng ký kết hôn) và 01 ngƣời con; tiền án: Bản án số 228/2019/HS-ST ngày 30/9/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An (nay là thành phố Thuận An) xử 10 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 02/12/2020.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Trƣơng Văn N, sinh năm 1999, nơi cƣ trú: Ấp H, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Có mặt

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Phạm Văn N, sinh ngày 21/9/2004, nơi cƣ trú: Ấp 7, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Ngƣời đại diện hợp pháp: Ông Phạm Văn L, sinh năm 1974, bà Trần Thị T Đ, sinh năm 1981, cùng nơi cƣ trú: Ấp 7, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (là cha, mẹ ruột). Vắng mặt

- Ông Phạm Văn L, sinh năm 1974, nơi cƣ trú: Ấp 7, xã Vị T, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt

- Bà Trần Thị T Đ, sinh năm 1981, nơi cƣ trú: Ấp 7, xã Vị T, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

- Ông Đặng Văn N. Vắng mặt

- Ông Lê Văn T. Vắng mặt

- Bà Đỗ Thị B. Vắng mặt

- Bà Ngô Thị H.Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Lê Nhựt D và ông Trƣơng Văn N là bạn bè quen biết nhau. Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 07/6/2020, D đi chơi tại gần công ty Thông Dụng thuộc khu phố 3, phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì gặp ông N cùng một số ngƣời bạn của ông N đi ngang qua, nhóm ông N có chửi lại D nên xảy ra mâu thuẫn xô xát nhau, ông N bỏ đi còn D đi về nhà trọ. Sau đó, D gọi điện thoại cho Lƣu Văn M, sinh ngày 29/7/2004 và tên Phƣơng (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) rủ đi đánh nhau thì cả hai đồng ý. Đến khoảng 17 giờ 00 phút ngày 08/6/2020, D đi đến khu nghĩa địa thuộc khu phố 2, phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì gặp Mạnh, Phƣơng, Phạm Văn N, sinh ngày 21/9/2004 cùng tên Sỹ, Bảo và khoảng 6 đối tƣợng khác (chƣa rõ nhân thân, lai lịch). D kể lại sự việc bị ông N đánh và D rủ cả nhóm đi đánh ông N để trả thù thì tất cả đồng ý. Đến khoảng 18 giờ 40 phút cùng ngày, D, Mạnh, N, Bảo, Sỹ, Phƣơng cùng các đối tƣợng khác mang theo dao mã tấu, ống tuýp sắt đi đến dãy trọ của ông N địa chỉ 66E/1, khu phố 1A, phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Khi đến nơi, Duy cầm con dao mã tấu dài khoảng 60cm bằng kim loại trên tay phải cùng 2 đối tƣợng khác cầm dao đi vào phòng trọ số 27 của dãy trọ thì thấy ông N đang ngồi ăn cơm nên D cầm dao trên tay xông vào chém loạn xạ về phía ngƣời ông N thì trúng vào tay, vai và đầu ông N gây thƣơng tích, còn 2 đối tƣợng dùng chân đá vào ngƣời ông N rồi bỏ ra ngoài cả nhóm cùng chạy thoát. Ông N đƣợc ngƣời dân đƣa đến bệnh viện Quân đoàn 4 cấp cứu, sau đó ông N đến Công an phƣờng An Phú trình báo và làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Ngày 02/12/2020, Lê Nhựt D đến Công an phƣờng An Phú đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội trên.

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 351/2020/GĐPY ngày 12/8/2020 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bình Dƣơng kết luận bị hại Trƣơng Văn N thƣơng tích nhƣ sau:

Vết thƣơng đầu vùng đỉnh chẩm 3x0,2cm, vết thƣơng trán thái dƣơng trái 5,5x0,2cm, vết thƣơng lƣng phải vùng xƣơng bả vai 1,8x0,3cm, sẹo lành.

Vết thƣơng mặt lƣng bàn tay trái 7,2x0,2cm, gãy xƣơng bàn ngón 2,3,4,5, đứt gân duỗi các ngón 2,3,4,5, đã phẫu thuật kết hợp xƣơng và nối gân, còn hạn chế vận động ngón 2,3,4,5, sạo lành.

Vết trầy xƣớc gối trái 3x0,4cm, sẹo lành.

Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 25% (hai mƣơi lăm phần trăm) theo bảng tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể ban hành kèo theo thông tƣ số 22/2019/TT-BYT do Bộ Y Tế ban hành ngày 28/8/2019.

Cơ chế hình thành vết thƣơng:

Vết thƣơng đầu vùng đỉnh chẩm chiều nằm ngang, hƣớng từ trên xuống, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.

Vết thƣơng trán thái dƣơng trái chiều từ trên xuống chếch ra sau, hƣớng từ trái sang phải, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.

Vết thƣơng lƣng phải vùng xƣơng bả vai chiều từ trên xuống, chếch từ trái sang phải, bờ tƣơng đối gọn, khả năng do vật sắc gây ra.

Vết thƣơng mặt lƣng bàn tay trái chiều nằm ngang, chếch từ trên xuống, hƣớng từ trƣớc ra sau, bờ tƣơng đối gọn, khả năng do vật sắc gây ra.

Cáo trạng số 124/CT-VKS-TA ngày 29/3/2021 của Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Lê Nhựt D về tội Cố ý gây thƣơng tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định nhƣ bản cáo trạng đã truy tố và xác định: Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có hành vi xúi dục Lƣu Văn M và Phạm Văn N là ngƣời dƣới 18 tuổi; phạm tội thuộc trƣờng hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo ra đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên đề nghị:

Xử phạt bị cáo Nhựt D mức án từ 04 năm đến 05 năm tù

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại.

Về xử lý vật chứng: Không đề nghị xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ nội dung cáo trạng truy tố. Lời nói sau cùng của bị cáo trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo đã nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin lỗi bị hại, bị cáo đồng ý bồi thƣờng cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị hại trình bày nội dung sự việc nhƣ bản cáo trạng, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thƣờng bồi thƣờng thiệt hại về sức khỏe, tiền công lao động bị mất, bồi thƣờng tổn thất về tinh thần và các chi phí khác số tiền 100.000.000 đồng và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Nhựt D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết nhƣ nội dung bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Do có mâu thuẫn, xô xát với bị hại N trƣớc đó nên vào khoảng 18 giờ 40 phút ngày 08/6/2020, tại khu nhà trọ địa chỉ 66E/1, khu phố 1A, phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo Lê Nhựt D cùng các đối tƣợng Lƣu Văn M, Phạm Văn Ng, Bảo, Sỹ, Phƣơng dung mã tấu, ống tuýp sắt đánh bị hại Trƣơng Văn N gây thƣơng tích.

Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 351/2020/GĐPY ngày 12/8/2020 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bình Dƣơng kết luận bị hại Trƣơng Văn N với tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 25% (hai mƣơi lăm phần trăm) theo bảng tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể ban hành kèo theo thông tƣ số 22/2019/TT-BYT do Bộ Y Tế ban hành ngày 28/8/2019. Hành vi bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thƣơng tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội Cố ý gây thƣơng tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật, mức đề nghị áp dụng hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với hành vi các bị cáo đã thực hiện.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm về sức khỏe của ngƣời khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hƣởng an ninh trật tự xã hội tại địa phƣơng. Bị cáo nhận thức hành vi dung tuýp sắt, mã tấu là hung khí nguy hiểm đánh bị hại gây thƣơng tích là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị nhƣng bị cáo vẫn cố ý phạm tội vì vậy cần xét xử và áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ, hậu quả phạm tội đã thực hiện có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và nhân thân của bị cáo.

Đối với Phạm Văn N, sinh ngày 21/9/2004 là ngƣời cùng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên, khi thực hiện hành vi phạm tội Ng mới 15 tuổi 8 tháng nên không đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Vị Thanh, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính bằng hình thức giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn theo Nghị quyết 56/2016/NĐ-CP ngày 29/6/2016 là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Lƣu Văn M là ngƣời cùng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhƣng đã bỏ trốn chƣa xác định đƣợc đang ở đâu. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã thu thập đƣợc giấy khai sinh của Lƣu Văn M, sinh ngày 29/7/2004 nhƣng đến ngày 10/9/2007 đăng ký nên giấy khai sinh đăng ký quá hạn. Qua xác minh tại Trạm y tế và Ủy ban banh dân xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang thì không có Giấy chứng sinh. Do đó chƣa đủ căn cứ xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với Lƣu Văn M nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục điều tra nếu có căn cứ sẽ giải quyết ở vụ án khác.

Đối với tên Bảo, Phƣơng, Sỹ và các đối tƣợng khác chƣa rõ thông tin về nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đang tiếp tục xác minh, khi nào rõ sẽ xử lý sau.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có hành vi xúi dục Lƣu Văn M, sinh ngày 29/7/2004 và Phạm Văn N, sinh ngày 21/9/2004 là ngƣời dƣới 18 tuổi phạm tội; bản án số 228/2019/HS-ST ngày 30/9/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An (nay là thành phố Thuận An) xử 10 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chƣa đƣợc xóa án tích, nay lại cố ý phạm tôi là thuộc trƣờng hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm h, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo ra đầu thú; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo và bị hại thống nhất thỏa thuận bị cáo bồi thƣờng thiệt hại về sức khỏe, tiền công lao động bị mất, bồi thƣờng tổn thất về tinh thần và các chi phí khác cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Đối với con dao mã tấu dài khoảng 60cm do Lê Nhựt D sử dụng vào việc phạm tội, do không thu hồi đƣợc nên không đề cập xử lý

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điểm h, o khoản 1 Điều 52; Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự;

- Điều 590 Bộ luật Dân sự;

- Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lê Nhựt D phạm tội Cố ý gây thƣơng tích.

Xử phạt bị cáo Lê Nhựt D 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/12/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Nhựt D phải bồi thƣờng cho bị hại Trƣơng Văn N số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng)

Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu ngƣời phải thi hành án không thanh toán số tiền trên cho ngƣời đƣợc thi hành án thì hàng tháng ngƣời phải thi hành án thì còn phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tƣơng ứng với thời hạn và số tiền chậm trả.

3. Về án phí: Bị cáo Lê Nhựt D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngƣời vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể tứ ngày bản án đƣợc giao hoặc niêm yết.

Bản án này đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ