vanban.org

Bản án 112/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội Tuyên án 07/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Hphạm tội Lừa đảo chiếm đọat tài sản.

Xử phạt: Nguyễn Văn H 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 07/7/2021. Giao bị cáo Nguyễn Văn Hvề Ủy ban nhân dân xã Hương M, Hện Việt Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự sơ thẩm - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Hphạm tội Lừa đảo chiếm đọat tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN GIA LÂM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2021/HS-ST
Ngày 07 - 7 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN GIA LÂM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hà Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà: Nguyễn Thị Nga

Bà: Nguyễn Thị Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiện Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân Hện Gia Lâm

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Gia Lâm tham gia phiên tòa:

Ông: Đặng Hoàng Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Hện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:93/TLST-HS, ngày 03 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H (tên gọi khác: không), sinh năm 1997 tại Bắc Giang; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: thôn Mai Thượng, xã Hương M, huyện Việt Y, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970; Vợ, con: không có; Tiền án, tiền sự: không có; Nhân thân: bản án số 62/2015/HSSST, ngày 26/8/2015 của Tòa án nhân dân Hện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xử phạt bị cáo 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án; Bị cáo khởi tố tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: ông Lê Quang Đạo – trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước.

* Bị hại: chị Vũ Thị Thanh Th, sinh năm 1995.

Đăng ký hộ khẩu thường trú: số 4x, phố Hòa B, phường Âu C, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; Địa chỉ liên hệ: số 6x, Cao B, phường Âu C, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1990;

Địa chỉ: thôn Lã C, xã Yên V, Hện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

(vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H là nhân viên của công ty cổ phần giao hàng tiết kiệm tại địa chỉ đường Phan Đăng Lưu, xã Yên Viên, Gia Lâm, Hà Nội. Trong quá trình làm việc tại công ty, H mượn tài khoản “thaott12” là tài khoản nội bộ của giao dịch viên Trần Thanh Tha để kiểm tra các đơn hàng bị thất lạc. Từ đó H biết được thông tin ngày 23/8/2020, anh Nguyễn Văn Tr (là chủ Shop Trung Spa) có đặt đơn hàng yêu cầu Công ty giao hàng tiết kiệm cHển hàng mỹ phẩm cho chị Vũ Thị Thanh Th ở 68 Cao B, phường Âu C, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ và thu hộ số tiền 19.700.000 (Mười chín triệu bảy trăm nghìn đồng) của chị Th. Lợi dụng lúc anh Tr chưa c Hển mỹ phẩm cho công ty để giao hàng cho chị Th, H nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị Th. Để thực hiện được mục đích của mình, H đã giả mạo đơn hàng của anh Tr để cHển số hàng mỹ phẩm cho chị Th với số lượng ít hơn như anh Tr và chị Th thỏa thuận, nhưng vẫn thu đủ số tiền 19.700.000 đồng. Ngày 24/8/2020, H đã mua 08 hộp kem mỹ phẩm gồm: 03 hộp kem tái sinh, 03 hộp kem thẩm thấu, 01 hộp kem trị nám, 01 kem dưỡng da đều có nhãn hiệu Mr.Sheeo với tổng số tiền là 3.440.000 đồng. Sau đó, H tạo đơn hàng trên hệ thống Giao hàng tiết kiệm để cHển cho chị Th với thông tin người nhận như trên và kèm theo yêu cầu công ty thu số tiền 19.700.000 đồng từ chị Th để cHển vào số tài khoản 005704060533140 - Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam (VIB) là tài khoản của H đang sử dụng. Tiếp đó, H tiếp tục đăng nhập tài khoản của Tha và tài khoản của anh Đỗ Văn Hải (sinh năm: 1983, trú tại Thôn Yên Viên, Gia Lâm, Hà Nội) là nhân viên lấy hàng của công ty giao hàng tiết kiệm để xác nhận việc nhân viên công ty đã đến lấy hàng mang về kho để cHển cho chị Th rồi H tự mang số hàng giả mạo đã chuẩn bị sẵn đến kho Phan Đăng Lưu để xe của công ty cHển hàng đi. Chiều cùng ngày, công ty giao hàng tiết kiệm cHển đơn hàng giả mạo của H đến giao cho chị Th, do tin tưởng đó là hàng của anh Tr nên chị Th không kiểm tra mà thanh toán số tiền 19.700.000 đồng cho công ty, công ty giao hàng tiết kiệm đã cHển số tiền trên vào số tài khoản 005704060533140 - Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam (VIB) cho H. Sau khi nhận được tiền trong tài khoản, H đã rút toàn bộ số tiền trên mục đích để sử dụng cho bản thân.

Ngày 10/9/2020, Công ty cổ phần giao hàng tiết kiệm đã gửi đơn trình báo đến Công an Hện Gia Lâm về việc nhân viên công ty là anh Nguyễn Văn H, có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tại cơ quan Điều tra, Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ: Nguyễn Văn H tự nguyện giao nộp 19.700.000 đồng là số tiền chị Th đã thanh toán cho H nhưng H chưa kịp sử dụng.

Quá trình điều tra, anh Tr đã cHển cho chị Vũ Thị Thanh Th đủ số lượng đơn hàng mỹ phẩm (đã đặt trước đó) còn thiếu và trả cho bị cáo số tiền tiền tương đương giá trị đơn hàng H cHển cho là 3.440.000 đồng. Anh Tr yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh số tiền tương ứng với đơn hàng anh đã cHển cho chị Th là 19.700.000 đồng.

Đại diện Công ty cổ phần giao hàng tiết kiệm là anh Anh Chu Quốc Toản xác định số tiền bị cáo chiếm đoạt không phải là tài sản của công ty nên không yêu cầu gì về dân sự.

Theo kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐG ngày 13/01/2021, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Hện Gia Lâm, kết luận: 03 hộp kem tái sinh nhãn hiệu Mr.Sheeo, loại 40 gram có tổng giá trị: 1.290.000 đồng; 03 hộp kem thẩm thấu nhãn hiệu Mr.Sheeo, loại 30 gram có tổng giá trị: 1.290.000 đồng; 01 (Một) hộp kem trị nám nhãn hiệu Mr.Sheeo, loại 30 gram có tổng giá trị: 430.000 đồng; 01 (Một) hộp kem dưỡng da nhãn hiệu Mr.Sheeo, loại 40 gram có tổng giá trị: 430.000. Tổng cộng: 3.440.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 88/CT-VKSGL, ngày 27/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Hện Gia Lâm truy tố bị cáo Nguyễn Văn Hvề tội “tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS.

Tại phiên toà:

Bị cáo Nguyễn Văn Hđã khai nhận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện như đã khai nhận tại cơ quan điều tra.

Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại là chị Vũ Thị Thanh Th không có yêu cầu gì về dân sự. Anh Nguyễn Văn Tr đề nghị các cơ quan Tố tụng hoàn trả cho anh số tiền 19.700.000 đồng bị cáo đã bồi thường.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Gia Lâm trình bày luận tội, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H trên cơ sở xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 174; Điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 – Bộ Luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị xử phạt bị cáo H từ 10 tháng đến 14 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.

Về vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: trả lại cho anh Nguyễn Văn Tr số tiền 19.700.000 đồng mà bị cáo đã nộp cho cơ quan điều tra để khắc phục hậu quả

Về dân sự: Bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền khắc phục hậu quả là 19.700.000 đồng. Số tiền hiện đang lưu giữ tại cơ quan thi hành án dân sự Hện Gia Lâm nên hoàn trả lại cho anh Tr.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: nhất trí về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức đề nghị mà Viện kiểm sát đưa ra đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, đề nghị HĐXX xem xét đến hoàn cảnh gia đình của bị cáo phức tạp, có 7 anh chị em, có anh chị em cùng cha khác mẹ, kinh tế gia đình vô cùng khó khăn. Đây cũng là một phần nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất và được cải tạo ngoài xã hội.

Sau khi nghe ý kiến của người bào chữa cho bị cáo, đại diện viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm, không thay đổi bổ sung gì.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử mở lượng khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đến mức thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Hện Gia Lâm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Hện Gia Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng những người này đều có đơn xin xét xử vắng mặt và đã có đủ lời khai tại cơ quan điều tra. Sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định xét xử vụ án vắng mặt bị hai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

. Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Quá trình làm nhân viên giao hàng tại Công ty cổ phần giao hàng tiết kiệm, lợi dụng sự sơ hở trong quản lý của Công ty, Nguyễn Văn Hđã dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản bằng cách: khi H biết được thông tin ngày 23/8/2020, anh Nguyễn Văn Tr có đặt đơn hàng yêu cầu công ty cổ phần giao hàng tiết kiệm cHển hàng mỹ phẩm cho chị Vũ Thị Thanh Th theo địa chỉ số 68 Cao B, phường Âu C, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ và thu hộ số tiền 19.700.000 đồng nhưng anh Tr chưa cHển mỹ phẩm cho công ty để giao hàng cho chị Th, H đã sử dụng tài khoản của giao dịch viên khác để tạo đơn hàng giả, dùng số mỹ phẩm có giá trị 3.440.000 đồng để chiếm đoạt của chị Vũ Thị Thanh Th số tiền 16.260.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 174 – Bộ luật hình sự.

Điều 174 quy định:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;

.......

Bản cáo trạng số 88/CT-VKSGL, ngày 27/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Hện Gia Lâm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Hvề tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Về hình phạt và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Việc phát hiện hành vi vi phạm là ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi của bị cáo phải bị truy tố và xét xử bằng một Bản án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên cũng xét: bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng và có 02 tình tiết giảm nhẹ theo điểm b,s khoản 1 và khoản 2 là bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Tại bản án số 62/2015/HSSST, ngày 26/8/2015 của Tòa án nhân dân Hện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xử phạt bị cáo 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự. Bị cáo bị kết án về tội ít nghiêm trọng khi dưới 18 tuổi. Căn cứ khoản 1 Điều 107 của Bộ luật hình sự, bị cáo thuộc trường hợp được coi là không có án tích. Bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định ở khoản 1 và tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ Điều 65 của của Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ngày 15/5/2018, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ cho bị cáo H được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Hện Gia Lâm đề nghị áp dụng đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo.

. Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo có phần phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

.Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo thuộc hộ cận nghèo, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: trả lại cho anh Nguyễn Văn Tr 19.700.000 đồng là số tiền bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại.

. Về trách nhiệm dân sự: Chị Vũ Thị Thanh Th đã nhận đủ số lượng đơn hàng mỹ phẩm của anh Nguyễn Văn Tr. Chị Th không yêu cầu gì về bồi thường dân sự. Anh Tr đã trả cho H số tiền 3.440.000 đồng tương đương giá trị đơn hàng H cHển cho chị Th, anh Tr đề nghị Cơ quan tiến hành tố tụng trao trả lại số tiền 19.700.000 đồng do H đã tự nguyện bồi thường cho anh.

. Đối với chị Trần Thanh Tha và anh Đỗ Văn Hải: Căn cứ tài liệu thu thập có trong hồ sơ xét thấy không đủ căn cứ để xác định chị Tha và anh Hải đồng phạm với H nên CQĐT không xem xét xử lý là đúng quy định pháp luật.

. Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo Nguyễn Văn Hthuộc trường hợp hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 174; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào các Điều: 326, 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ: khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Hphạm tội Lừa đảo chiếm đọat tài sản.

Xử phạt: Nguyễn Văn H 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 07/7/2021.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Hvề Ủy ban nhân dân xã Hương M, Hện Việt Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Bị cáo Nguyễn Văn H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Văn H cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng: trả cho anh Nguyễn Văn Tr số tiền 19.700.000 đồng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự Hện Gia Lâm, theo biên lai thu tiền số AA/2020/0054819, ngày 31/5/2021.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Hđược miễn án phí Hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết đinh được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho bị cáo Nguyễn Văn Hcó mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Vũ Thị Thanh Th vắng mặt có quyền kháng cáo bản án và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ