- Tranh chấp gì? án hình sự — "Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Phạm Khắc Linh Kh và Lê Quốc D; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 132/2021/HS-ST ngày 20 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Bản án số: 112/2021/HS-PT Ngày: 31-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế
Các Thẩm phán:
Ông Trần Trọng Nhân
Ông Đỗ Cao Khánh
- Thư ký phiên toà: Ông Hồ Văn Mil, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Trúc Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công Kh2i vụ án hình sự thụ lý số 128/2021/TLPT-HS ngày 26 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo Phạm Khắc Linh Kh và Lê Q D do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 132/2021/HS-ST ngày 20/10/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Phạm Khắc Linh Kh, sinh năm 1996; hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã Ph, huyện Ph, tỉnh Cà Mau; chỗ ở khác: Khóm 4, phường 4, thành phố C; nghề nghiệp: Chạy xe honda khách; trình độ học vấn 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Q tịch: Việt Nam; con ông Phạm Khắc L và bà Nguyễn Mộng C; chưa có vợ con; tiền sự: Không; tiền án: có 01 tiền án (Ngày 10 tháng 8 năm 2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 20 tháng 4 năm 2019, chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm); bị bắt tạm giam từ ngày 26 tháng 01 năm 2021 đến nay. Bị cáo có mặt.
2. Lê Q D, sinh năm 1996; nơi cư trú: Ấp T, xã Ph, huyện Tr, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Q tịch: Việt Nam; con ông Lê Q Kh1 (chết) và bà Ngô Thị Nh; có vợ (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 23 tháng 6 năm 2021; bị tạm giam từ ngày 26 tháng 6 năm 2021 đến nay. Bị cáo có mặt.
- Bị hại: Anh Võ Hoàng Kh2, sinh năm 1996 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Kinh Chùa, xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn Bến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 16 tháng 11 năm 2020, Võ Hoàng Kh2 cùng vợ Trần Hải Ngh cùng tạm trú: Phạm Ngọc Thạch, phường 5, thành phố C, đi dự tiệc sinh nhật tại quán Ngô Đồng thuộc ấp Bà Điều, xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Do nhậu say nên Kh2 liên hệ tổng đài Let’s go để chở Kh2 về nhà. Phía Công ty Let’s go cử Phạm Khắc Linh Kh chạy xe đến rước Kh2 và cho số điện thoại của Kh2 cho Kh để liên lạc.
Sau đó, Kh điều khiển xe sirus chở anh T làm cùng Công ty với Kh chạy đến phường 8 để rước Kh2. Tuy nhiên, khi đến phường 8, thành phố Cà Mau, Kh liên hệ với Kh2 thì nghe nhầm là rước Kh2 tại quán Cua Đồng nên tìm không gặp Kh2. Do đợi lâu nên Kh2 điện thoại lại cho Kh thì giữa Kh và Kh2 xảy ra cự cãi nên thách thức đánh nhau cả hai hẹn gặp nhau tại quán Ngô Đồng. Lúc này, anh T không chịu cùng Kh đến gặp Kh2 nên chạy xe bỏ đi.
Sau khi Kh và Kh2 thách thức đánh nhau thì Kh điện thoại cho Lê Q D là bạn của Kh đến chở Kh đi đánh nhau thì D đồng ý. Lúc này, D rủ thêm B và Q (chưa xác định rõ nhân thân), D điều khiển xe Wave màu tím đi một mình, còn B và Q đi chung xe AirBlade không rõ biển số từ quán cà phê Tím, phường 5, thành phố Cà Mau đến ấp Bà Điều, xã Lý Văn Lâm thì gặp Kh. Lúc này, Kh lấy một khúc cây gỗ (loại cây Tràm) cầm trên tay, D điều khiển xe chở Kh đến quán Ngô Đồng, còn B và Q lấy gạch ống, cây đem theo.
Khi B và Q chạy trước đến quán Ngô Đồng thì gặp Kh2 cầm một khúc cây gỗ (loại cây Tràm) nên B và Q nhảy xuống xe đánh Kh2 bằng cây và gạch ống. Sau đó D và Kh cũng chạy xe đến. Kh dùng khúc cây Tràm đánh nhiều cái vào người Kh2, D cũng xông vào đánh Kh2 bằng tay làm cho Kh2 té ngã thì Kh tiếp tục dùng cây Tràm đánh nhiều cái vào người Kh2. Khi thấy Kh2 bị chảy máu thì cả nhóm lên xe bỏ đi.
Sau khi bị đánh, Kh2 được Nghi chở về nhà tại phường 5, thành phố Cà Mau. Đến khoảng 00 ngày 17 tháng 11 năm 2020, Nghi thấy Kh2 vẫn còn chảy máu nên đưa Kh2 vào Bệnh viện điều trị.
Tại Bản kết luận giám định thương tích số 287/TgT ngày 25 tháng 12 năm 2020 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Cà Mau kết luận:
Dấu hiệu chính qua giám định:
- 01 vết xây xát da đuôi mắt phải, kích thước: 2,5cm x 0,2cm.
- Bầm, sung huyết quanh mắt phải, kích thước: 4,5cm x 2,5cm.
- Bầm, sung huyết quanh mắt trái, kích thước: 4cm x 4cm.
- Bầm, sưng nề cung gò má trái, kích thước: 3,5 cm x 03cm.
- 01 vết thương vùng má trái, kích thước: 5cm x 0,2cm.
- 01 mảng bầm sau tai trái, kích thước: 6cm x 2,5cm.
- 01 mảng bầm 1/3 trên mặt ngoài cánh tay trái, kích thước: 16cm x 13cm.
- 01 vết thương 1/3 trên mặt sau cẳng tay trái, kích thước: 01cm x 0,5cm.
- 01 vết bầm 1/3 trên mặt sau cẳng chân trái, kích thước: 03cm x 2,5cm.
- Gãy xương mũi.
- Gãy thành ngoài hốc mắt hai bên.
- Vỡ xoang hàm hai bên.
Kết luận
- 01 vết xây xát da đuôi mắt phải, kích thước: 2,5cm x 0,2cm. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.
- Bầm, sung huyết quanh mắt phải, kích thước: 4,5cm x 2,5cm. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.
- Bầm, sung huyết quanh mắt trái, kích thước: 4cm x 4cm. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.
- Bầm, sưng nề cung gò má trái, kích thước: 3,5 cm x 03cm. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.
- 01 vết thương vùng má trái, kích thước: 5cm x 0,2cm. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.
- 01 mảng bầm sau tai trái, kích thước: 6cm x 2,5cm. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.
- 01 mảng bầm 1/3 trên mặt ngoài cánh tay trái, kích thước: 16cm x 13cm. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.
- 01 vết thương 1/3 trên mặt sau cẳng tay trái, kích thước: 01cm x 0,5cm. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.
- 01 vết bầm 1/3 trên mặt sau cẳng chân trái, kích thước: 03cm x 2,5cm Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.
- Gãy xương mũi. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.
- Gãy thành ngoài hốc mắt hai bên. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.
- Vỡ xoang hàm hai bên. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định theo thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ y tế là 51%.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 132/2021/HS-ST ngày 20/10/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã quyết định: Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Kh 07 (bảy) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo D 05 (năm) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 27/10/2021, các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 132/2021/HS-ST ngày 20 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
- Lời nói sau cùng của các bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận: Khoảng 18 giờ 00 ngày 16/11/2020 tại ấp Bà Điều, xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt khi anh Võ Hoàng Kh2 gọi điện thoại cho nhân viên của dịch vụ Let”s go thì Phạm Khắc Linh Kh là nhân viên của Let’s go nghe nhầm địa chỉ nên cả hai thách thức đánh nhau. Sau đó Kh rủ Lê Q D, D rủ B và Q (chưa xác định rõ nhân thân) đến nơi anh Kh2 đợi. Khi đến nơi, Kh cùng đồng bọn dùng cây, gạch ống và dùng tay đánh anh Kh2 gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 51%. Với các tình tiết này, Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền tự do về thân thể của công dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Các bị cáo gây thương tích cho bị hại 51% trái pháp luật, phạm tội thì phải bị xử lý và chịu hình phạt theo pháp luật hình sự.
Đối với bị cáo Kh: Bị cáo giữ vai trò chính trong vụ án nên phải chịu mức hình phạt nặng hơn bị cáo D. Quá trình xét xử, cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo gồm: Đã bồi thường thiệt hại; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị hại cũng có phần lỗi và có đơn bãi nại. Đối với tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý nên theo điểm a khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự, thì lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm lại xác định lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm. Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, cấp sơ thẩm mới phát hiện sai sót này và sửa chữa, bổ sung bản án, nhưng thông báo sửa chữa, bổ sung bản án chỉ gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp mà không gửi Tòa án cấp phúc thẩm để lưu hồ sơ là có thiếu sót. Do không có kháng cáo, kháng nghị về tình tiết tăng nặng này, nên cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm. Với mức hình phạt 07 năm tù mà cấp sơ thẩm quyết định đối với bị cáo là phù hợp với tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được các tình tiết giảm nhẹ mới, nên kháng cáo không chấp nhận.
Đối với bị cáo D: Quá trình xét xử, cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, gồm: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đầu thú; Bị hại cũng có phần lỗi và có đơn bãi nại. Bị cáo bị Kh rủ rê, lôi kéo cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Từ đó, xử phạt bị cáo 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” là tương xứng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới, nên kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận.
Với các tình tiết nêu trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa được chấp nhận.
Do kháng cáo không được chấp nhận, nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị, đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Kh; Điểm c khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo D; Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Phạm Khắc Linh Kh và Lê Quốc D; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 132/2021/HS-ST ngày 20 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau về phần hình phạt.
2. Xử phạt bị cáo Phạm Khắc Linh Kh 07 (bảy) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 01 năm 2021.
3. Xử phạt bị cáo Lê Quốc D 05 (năm) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 23 tháng 6 năm 2021.
4. Bị cáo Kh phải chịu là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Trại giam Công an tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân tp Cà Mau; - Công an tp Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân tp Cà Mau; - Chi cục THADS tp Cà Mau; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa HS, án văn; - Lưu VT(TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trọng Quế |