vanban.org

Bản án 112/2020/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/02/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/02/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thị Ngọc L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Bản án số: 112/2020/HS-PT
!
Ngày: 26-02-2020

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"phúc"thẩm"gồm"có:!

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hà

Các Thẩm phán: 1. Bà Huỳnh Thị Việt Tiên

2. Bà Phạm Uyên Thy

Thư"ký"phiên"tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh

Đại" diện" Viện" kiểm" sát" nhân" dân" thành" phố" Hồ" Chí" Minh" tham" gia"

phiên"tòa: Ông Lê Trung Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 2/2020/TLPT-HS

ngày 02/01/2020 đối với Ngô Thị Ngọc L do có kháng cáo của bị cáo đối với

Bản án hình sự sơ thẩm số 171/2019/HSST ngày 25/11/2019 của Tòa án nhân

dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Ngô! Thị! Ngọc! L; giới tính: nữ; sinh năm: 1985 tại tỉnh An Giang; nơi

đăng ký hộ khẩu thường trú: 222 HĐC, tổ 3, khóm VT 2, phường NS, thành phố

CĐ, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: Không biết chữ;

quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông NHT (chết) và bà

LTL; hoàn cảnh gia đình: có chồng (không đăng ký kết hôn) và 02 con, lớn sinh

năm 2006, nhỏ sinh năm 2019; tiền sự: không.

Tiền án:

- Ngày 29/9/2016 bị Tòa án Nhân dân Quận 2 xử phạt 09 tháng tù về tội

“Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 67/2016/HSST;

- Ngày 25/8/2017 bị Tòa án Nhân dân Quận 5 xử phạt 01 năm tù về tội

“Trộm cắp tài sản” theo bản án số 91/2017/HSST.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 15/9/2019 (có mặt).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ ngày 15/9/2019, Ngô Thị Ngọc L vào bệnh viện Từ Dũ tại

số 284 CQ, phường PNL, Quận M tìm những người sơ hở để trộm cắp tài sản. Khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, L đến phòng 117 khoa sản A bệnh viện Từ Dũ lén lút lấy một chiếc điện thoại hiệu Oppo đang cắm sạc cạnh ba lô của bà Trần Thị L1 đang nằm ngủ, cất vào túi áo khóa bên trái. Sau đó, L kéo khóa túi xách dưới gầm giường bà Nông Thị N cũng đang nằm ngủ trên giường bên cạnh để trộm 3.615.000 đồng giấu trong túi bên quần trái. L tiếp tục cắt một đầu dây túi xách để trộm thêm thì bị bà N phát hiện truy hô, L bỏ chạy nhưng bị bà N đuổi theo bắt giữ được, giao cho công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng.

Tại bản kết luận định giá số 367/KL-HHĐGTS ngày 30/10/2019 xác định

chiếc điện thoại hiệu Oppo có giá trị là 5.308.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 171/2019/HSST ngày 25/11/2019 của Tòa

án nhân dân Quận 1 đã quyết định:

- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật

Hình sự.

+ Xử phạt bị cáo: Ngô Thị Ngọc L 02 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội

“Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/9/2019.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 26/11/2019, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm nêu

quan điểm kết luận cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội. Về hình phạt cấp sơ thẩm áp dụng điểm g khoản 2 điều 173 Bộ luật Hình sự là không đúng bởi lẽ bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, không phải tái phạm nguy hiểm. Do đó, đề nghị hội đồng xét xử cấp phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo mức án từ 01 (năm) 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ

sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo trong hạn luật định nên hợp lệ.

Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà nội dung bản

án sơ thẩm đã nêu, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 05 giờ ngày 15/9/2019, lợi dụng lúc các bệnh nhân tại bệnh viện Từ Dũ đang ngủ, Ngô Thị Ngọc L đã lén lút lấy trộm một chiếc điện thoại hiệu Oppo trị giá 5.308.000 đồng của bà Trần Thị L1 và số tiền 3.615.000 đồng của bà Nông Thị N thì bị bắt quả tang. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội "Trộm cắp tài sản" là xét xử đúng người, đúng tội.

Tuy nhiên, xem xét tính chất, mức độ hành vi cấp sơ thẩm áp dụng tình

tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo là chưa chính xác bởi lẽ Bản án hình sự số 91/2017/HSST ngày 25/8/2017 của Tòa án nhân dân Quận 5 xác

định tài sản bị cáo trộm cắp giá là 700.000 đồng và đã sử dụng tiền án (Bản án

số 67/2016/HSST ngày 29/9/2016 của Tòa án nhân dân Quận 2) làm tình tiết

định tội đối với bị cáo. Do đó, cấp sơ thẩm tiếp tục áp dụng tình tiết này làm

tình tiết định khung tăng nặng là “Tái phạm nguy hiểm” là bất lợi cho bị cáo.

Như vây, trong vụ án này tổng tài sản bị cáo chiếm đoạt là 8.923.000 đồng,

phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên cần áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h

khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo như đề nghị của đại diện

Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT!ĐỊNH!

Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ

luật Tố tụng Hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô!Thị!Ngọc!L. Sửa bản án sơ thẩm.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1

Điều 51 Bộ luật Hình sự.

+ Xử phạt bị cáo: Ngô!Thị!Ngọc!L 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài

sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/9/2019.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị

kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi"nhận:"

"TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM!

- TAND Tối Cao;

(1)

THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA!

- TAND Cấp Cao tại Tp. HCM

(1)

- VKSND Tp.HCM;

(3)

- VKSND Quận 1;

(1)

- Chi cục THA Quận 1;

(1)

- TAND Quận 1;

(2)

- Công an Quận 1;

(1)

- Phòng PC 53 - CA Tp. HCM;

(1)

- Bị cáo;

(1)

- Sở Tư pháp;

(1)

Nguyễn!Văn!Hà

- UBND nơi bị cáo cư trú;

(1)

- Lưu, hình sự, hồ sơ. (18)

(4)

Cỡ chữ