vanban.org

Bản án 112/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 05/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mai Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt Bị cáo Mai Thị T 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/4/2019. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 112/2019/HS-ST
Ngày: 05/6/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chu Thiện Nghĩa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Văn Minh

Bà Nguyễn Thị Thanh Hường

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh, Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy, Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2019/TLST-HS ngày 21/5/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2019/QĐXXST-HS ngày 22/5/2019, đối với bị cáo:

Mai Thị T, sinh năm 1986 tại T; nơi ĐKHKTT: TL, phường Q, thị xã S, tỉnh T; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Thanh L và bà Nguyễn Thị H; có chồng là Trần Trí D, có 02 con sinh năm 2005 và 2008; tiền án, tiền sự: không; danh chỉ bản số 164 lập ngày 28/02/2019 tại Công an quận Nam Từ Liêm; tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/04/2019; có mặt.

Bị hại: Chị Triệu Thị L, sinh năm 1988; địa chỉ: số 70, phường M, quận N, Hà Nội; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 26/10/2018, Mai Thị T đến quán làm tóc của chị Triệu Thị L tại số 70, phường M để làm tóc. Khoảng 16 giờ cùng ngày, T nhờ chị L đi mua hộ đồ ăn. Chị L đồng ý và có nhờ chị Đinh Thị Hương Lan là người bán hoa quả ở đối diện cửa hàng tóc trông hàng giúp. Trước đó, T đã nhìn thấy chị L để chiếc điện thoại Iphone 6 Plus màu vàng ở trên bàn làm tóc phía trước mặt T, nên sau khi chị L đi khỏi cửa hàng nhưng không cầm theo điện thoại thì T nảy sinh ý định lấy chiếc điện thoại trên của chị L. Để tránh bị phát hiện, T lấy chiếc điện thoại rồi vờ hỏi chị Lan chỗ bán nước để chị Lan không nghi ngờ, sau đó bỏ đi về phòng trọ của mình. Do điện thoại không cài đặt mật khẩu nên T đã xóa hết các dữ liệu trong điện thoại và giữ lại để sử dụng. Đến ngày 06/12/2018, chị L bắt gặp T ở khu vực chợ Mễ Trì Hạ nên đã đưa T đến Công an phường Mễ Trì để giải quyết.

Tại Cơ quan điều tra, Mai Thị T khai nhận hành vi phạm tội.

Vật chứng thu giữ của T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Plus màu vàng, số IMEI: 354386065932977.

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 71 ngày 27/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Nam Từ Liêm, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Plus, 16GB, màu vàng, IMEI: 354386065932977 đã qua sử dụng, hiện vẫn sử dụng được, có giá trị tài sản là 3.500.000 đồng.

Ngày 18/12/2018, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả chiếc điện thoại di động

nhãn hiệu Iphone 6Plus, 16GB, màu vàng, số IMEI: 354386065932977 cho chị Triệu Thị L. Chị L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Bản Cáo trạng số 135/CT-VKSNTL ngày 17/5/2019 của Viện kiểm sát nhân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Mai Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 173, các điểm h, i, s Khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 12 đến 18 tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 16 giờ ngày 26/10/2018, tại cửa hàng làm tóc tại địa chỉ số 70, phường M, quận N, Hà Nội, Mai Thị T đã lợi dụng lúc chị Triệu Thị L ra khỏi cửa hàng, lén lút lấy một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Plus màu vàng có giá trị 3.500.000 đồng của chị L. Vật chứng đã được thu hồi trả lại cho bị hại, chị L không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo lần đầu phạm tội, giá trị tài sản bị chiếm đoạt không lớn và đã được thu hồi trả lại cho bị hại, tại phiên tòa khai báo thành khẩn, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm i và s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo đã được phân tích ở trên thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo với mức án như đại diện Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Do bị cáo bỏ trốn khỏi nơi cư trú và bị cơ quan Cảnh sát điều tra công an quận Nam Từ Liêm ra quyết định truy nã nên hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị cho bị cáo hưởng án treo của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì, nên Tòa án không xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, các Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; các Điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Tuyên bố bị cáo Mai Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

- Xử phạt Bị cáo Mai Thị T 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/4/2019.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Cỡ chữ