vanban.org

Bản án 112/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau Tuyên án 29/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Vũ D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ngô Vũ D 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 8 năm 2019. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Ngô Vũ D bồi thường cho bị hại Nguyễn Hải A số tiền 3.561.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Vũ D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2019/HSST
Ngày: 29-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Võ Minh Luân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Xuân Minh.

2. Ông Nguyễn Trường Hận

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Tuyết Ngân – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên toà: Ông D Việt Khái - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 11 năm 2019 tại Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo: Ngô Vũ D, sinh năm 1996; nơi cư trú: khóm 4, thị t, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; cha Ngô Minh T, sinh năm 1972, mẹ chưa xác định được; vợ: Nguyễn Thị Diễm M, sinh năm 1998; con 02 người lớn sinh năm 2016 nhỏ sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 28/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xử phạt 01 năm tù về tội " Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị bắt khẩn cấp ngày 26/8/2019, sau đó khởi tố chuyển tạm giam cho đến nay.

Bị hại: Anh Nguyễn Hải A, sinh ngày 11/8/2003

Trú tại: Ấp 5, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1960; bà Trần Thị N, sinh năm 1962.

Trú tại: Ấp 5, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Nguyễn Văn T - Luật sư - Văn phòng luật sư Quốc Khởi, thuộc đoàn luật sư tỉnh Cà Mau

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Lưu Tuấn A, sinh năm 1992.

Trú tại: Ấp Ô, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Anh Nguyễn Hùng C, sinh năm 1984.

Trú tại: khóm 1, thị t, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ, ngày 23 tháng 8 năm 2019 Ngô Vũ D điều khiển xe mô tô hiệu Future, biển kiểm soát 69K2-4525 đến tiệm game Vũ Đang thuộc ấp 5, xã Khánh Bình Đông, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau gặp  đang chơi game. Dương rũ  đi đến tiệm game Đại Quang thuộc khóm 9, thị trấn Trần Văn Thời, huyện Trần Văn Thời để chơi game thì  đồng ý. Khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày trong lúc đang chơi game tại tiệm game Đại Quang thì D nãy sinh ý định chiếm đoạt điện thọai của Â. Dương dùng thủ đọan gian dối bằng cách nói với  “mày cho anh mượn cái điện thoại để đi rút tiền, cần điện thoại để xác minh tài khoản”. Mục đích của D là khi  đưa điện thoại sẽ chiếm đoạt bán lấy tiền chi xài cá nhân,  tin tưởng nên đưa điện thoại OPPO A5S cho D. D lấy điện thoại của  xong điều khiển xe đến tiệm điện thoại của Nguyễn Hùng C thuộc khóm 1, thị trấn Trần Văn Thời, huyện Trần Văn Thời bán với giá 2.000.000 đồng. D mua lại 01 điện thoại di động mới hiệu R9S giá 1.300.000 đồng và 01 sim điện thoại giá 130.000 đồng. Số tiền còn lại D chi xài cá nhân. Qua làm việc, Ngô Vũ D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu R9S màu đen bạc, hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời đang quản lý;

Kết luận định giá số 44 ngày 26 tháng 8 năm 2019 của Hội đồng định giá thuộc UBND huyện Trần Văn Thời, kết luận: 01 điện thoại di dộng hiệu OPPO A5S trị giá 3.561.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 95/CT-VKS ngày 18 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời truy tố bị cáo Ngô Vũ D theo khoaûn 1 Điều 174 Boä luật hình sự về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo không tranh luận về tội danh chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại phiên tòa: Yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 3.561.000 đồng và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại thống nhất với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt áp dụng đối với bị cáo Ngô Vũ D.Về trách hiệm dân sự đề nghị buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 3.561.000 đồng.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Ngô Vũ D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Vũ D 09 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 589 Bộ luật dân sự: Đề nghị công nhận thỏa thuận giữa bị cáo với bị hại tại phiên tòa, đề nghị buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 3.561.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tiếp tục giao 01 điện thoại di động hiệu R9S màu đen bạc, cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời đang quản lý để đảm bảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 19 giờ 15 phút, ngày 23 tháng 8 năm 2019 tại tiệm game Đại Quang thuộc khóm 9, thị trấn Trần Văn Thời, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau bị cáo Ngô Vũ D đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt 01 điện thoại di dộng hiệu OPPO A5S của Nguyễn Hải A trị giá 3.561.000 đồng để bán chi xài cá nhân. Hành vi của bị cáo Ngô Vũ D đã xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của bị hại và bị cáo đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo biết rõ việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thức hiện. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo không bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, bị cáo đủ năng lực trách nhiệm hình sự, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi mà bị cáo gây ra. Từ những phân tích trên, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời đã truy tố bị cáo Ngô Vũ D theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ pháp luật, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại. Bị cáo biết việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm, người vi phạm bị xử lý theo quy định của pháp luật. Nhưng vì bản tính tham lam, thích hưởng thụ trên công sức lao động của người khác nên bị cáo đã bất chấp pháp luật để phạm tội. Hành vi của bị cáo không chỉ vi phạm pháp luật hình sự mà còn gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang lo lắng cho người dân tại địa phương. Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: ngày 28/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xử phạt 01 năm tù về tội " Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo là thanh niên khỏe mạnh đã lập gia đình và có 02 con, lẽ ra bị cáo phải chăm lo chí thú làm ăn chân chính để lo gia đình và vợ con. Ngược lại bị cáo lại sống liêu lõng không lo làm ăn mà lợi dụng niềm tin của người khác để lừa đảo chiếm đoạt tài sản bán lấy tiền chi xài cá nhân. Do đó khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ xem xét mức hình phạt và loại hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để bị cáo có điều kiện cải tạo, sửa đổi thành người tốt có ích cho xã hội. Đồng thời góp phần ngăn ngừa các hình vi tương tự xảy ra trong cộng đồng dân cư.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Ngô Vũ D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Vũ D 09 tháng đến 01 năm 6 tháng tù. là có căn cứ, đúng với quy định của pháp luật.

Song khi xem xét mức hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét toàn diện các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo và bị hại tự thỏa thuận với nhau về trách nhiệm dân sự. Xét thấy sự thỏa thuận giữa bị cáo với bị hại về dân sự là phù hợp nên cần buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 3.561.000 đồng là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đại diện viện kiểm sát đề nghị tiếp tục giao 01 điện thoại di động hiệu R9S màu đen bạc, cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời quản lý để đảm bảo thi hành án là phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Ngô Vũ D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Hùng C là người mua điện thọai hiệu OPPO A5S của Ngô Vũ D, nhưng C không biết tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Trần Văn Thời không xử lý là có căn cứ.

Đối với xe mô tô hiệu Future màu xám, biển kiểm soát 69K2-4525 do Ngô Vũ D trộm của khác trên địa bàn huyện Trần Văn Thời nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Trần Văn Thời tiếp tục tạm giữ để điều tra là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Ngô Vũ D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ngô Vũ D 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 8 năm 2019.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Ngô Vũ D bồi thường cho bị hại Nguyễn Hải A số tiền 3.561.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục giao 01 điện thoại di động hiệu R9S màu đen bạc, cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời đang quản lý để đảm bảo thi hành án (hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời đang quản lý).

Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 300.000 đồng (chưa nộp).

Bị cáo, bị hại, người đại diện của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ