vanban.org

Bản án 112/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 30/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn trả sau giám định.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Lương Tuấn C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn trả sau giám định.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 112/2019/HS-ST
Ngày: 30 - 9 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thinh và ông Lê Văn Tú.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Xuân Trường - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Sinh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 111/2019/TL-STHS ngày 30 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Lương Tuấn C sinh năm 1995, tại Ninh Bình. Nơi cư trú: Số nhà H, ngõ B, đường PND, phố TS, phường BĐ, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn H và bà Đặng Thị Lệ T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/6/2019, đến ngày 08/6/2019 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay. “Có mặt”.

Người làm chứng: Anh Đặng Quang H, anh Hoàng Văn D. “Vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lương Tuấn C là người nghiện ma túy. Khoảng 14 giờ ngày 05/6/2019, Lương Tuấn C một mình điều khiển xe mô tô hiệu Honda mang biển kiểm soát 35H2 - 3258 đi từ nhà đến khu vực xã YB, huyện YY, tỉnh Nam Định với mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến khu vực bờ đê sông Đáy thuộc thôn DT, xã YB, huyện YY, tỉnh Nam Định, C gặp và hỏi mua được của người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng có đặc điểm là 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (2x2)cm, bên trong là chất dạng tinh thể màu trắng. Mua được ma túy, C cầm trong tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà để sử dụng. Hồi 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi C về đến khu vực bờ đê sông Đáy thuộc phố ĐS, phường BĐ, thành phố Ninh Bình thì bị Tổ công tác Công an phường TT, thành phố Ninh Bình phối hợp với Công an phường BĐ, thành phố Ninh Bình làm nhiệm vụ tại khu vực trên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình làm việc, Tổ công tác đã phát hiện tại tay trái C đang cầm 01 túi ma túy đá, C giao nộp và khai nhận vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ và niêm phong túi ma túy trên theo đúng quy định của pháp luật, sau đó đưa C cùng vật chứng về trụ sở Công an phường BĐ, thành phố Ninh Bình để tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ của Lương Tuấn C 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda mang biển kiểm soát 35H2 - 3258, 01 điện thoại hiệu Iphone 6 màu bạc.

Cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng thu giữ của Lương Tuấn C có khối lượng 0,34 gam, ký hiệu M gửi đi giám định xác định loại ma túy, khối lượng ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 184/KLGĐ-PC09-MT ngày 08/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, Kết luận: “Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,3386 gam (không phẩy ba nghìn ba trăm tám mươi sáu) gam là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”. Cơ quan giám định hoàn lại đối tượng giám định gồm chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2611 gam là ma túy, loại Methamphetamine. Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong được niêm phong trong phong bì theo đúng quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 115/CT-VKS ngày 30/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố Lương Tuấn C ra trước Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lương Tuấn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lương Tuấn C từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ 05/6/2019. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn trả sau giám định và vỏ, bao gói ban đầu.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Lương Tuấn C khai nhận toàn bộ hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 14 giờ 30 phút ngày 05/6/2019, tại khu vực phố ĐS, phường BĐ, thành phố Ninh Bình, Lương Tuấn C có hành vi cất giữ trái phép 0,3386 gam chất ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố Lương Tuấn C với tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không những đã xâm phạm trực tiếp tới sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn gây mất ổn định trật tự trị an, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Tuy nhiên, vì muốn thoả mãn ý thích cá nhân bị cáo cố tình vi phạm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt.

Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và giúp bị cáo từ bỏ ma tuý, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy, C khai mua ma túy của một người đàn ông không quen biết ở khu vực bờ đê Sông Đáy thuộc thôn DT, xã YB, huyện YY, tỉnh Nam Định. C không biết họ, tên đệm, địa chỉ cụ thể của người này nên không có cơ sở điều tra xác minh làm rõ.

Đối với chiếc xe mô tô hiệu Honda mang biển kiểm soát 35H2 - 3258 thu giữ của C, qua quá trình điều tra xác định biển kiểm soát thật là 30M4 - 3904 và thuộc sở hữu của bà Đặng Thị Lệ T sinh năm 1971, trú tại phố TS, phường BĐ, thành phố Ninh Bình, là mẹ đẻ của C. Quá trình bà T sử dụng chiếc xe do biển kiểm soát 30M4 - 3904 bị rơi ra nên ngày 01/6/2019 bà nhờ C lắp lại. Do không tìm thấy biển kiểm soát của chiếc xe trên nên C đã lấy chiếc biển kiểm soát 35H2 - 3258 có sẵn trong nhà lắp vào xe để đi lại. Việc C sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy bà T không biết, vì vậy Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T là có căn cứ.

Đối với 01 biển kiểm soát 35H2 - 3258, quá trình điều tra bà T khai ông Lương Văn H là chồng bà có nhặt được biển kiểm soát trên không biết ở đâu, ông H đã chết vào năm 2014. Do không làm rõ được nguồn gốc biển kiểm soát trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã bàn giao cho Đội cảnh sát giao thông Công an thành phố Ninh Bình để xử lý theo thẩm quyền.

Đối với chiếc điện thoại hiệu Iphone 6 màu bạc là của Lương Tuấn C, không liên quan đến việc phạm tội, quá trình điều tra C đã ủy quyền cho bà Đặng Thị Lệ T nhận lại chiếc điện thoại trên. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại cho bà T chiếc điện thoại trên là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

Số ma tuý còn lại cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong, cơ quan giám định hoàn trả lại cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Lương Tuấn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lương Tuấn C 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ 05/6/2019.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn trả sau giám định. (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình ngày 06/9/2019).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Lương Tuấn C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án 30/9/2019.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ