- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 112/2019/HS-ST Ngày: 06-9-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM- THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đoàn Thành Nam
Các hội thẩm nhân dân:
1- Ông NguyễnQuang Hiển
2- Bà Nguyễn Thị Hồng Ninh
-Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm- Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn ThịKim Hoa - Kiểm sát viên
Hôm nay, ngày06 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 113/2019/TLST-HS, ngày21/8/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2019/QĐXXST - HS, ngày27/8/2019, đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ; (tên gọi khác: Không); sinh năm: 1979; tại: Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1952 và con bà: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1953; gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; vợ là: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1983;con: Có 03 con: lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2005. danh chỉ bản số 0369, lập ngày 17/5/2019 tại Công an huyện G, thành phố Hà Nội; nhân thân: tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 13/05/2019; hiện bị cáoNguyễn Văn Đ đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa) .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 25 phút ngày 13/05/2019, tổ công tác Công an phường Ph, Công an quận L, Hà Nội làm nhiệm vụ tại đường Y, thôn Y, xã Y, huyện G, Thành Phố Hà Nộikiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác lập biên bản phạm tội quả tang và đưa Đ về trụ sở Công an xã Y làm việc. Vật chứng thu giữ của Đông: 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng.
Tại Kết luận giám định số 3017/KLGĐ –PC09 ngày 20/05/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: - Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,150 gam.
Ngày 10/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, đã ra Quyết định số: 13/QĐ-VKSLB chuyển vụ án hình sự để điều tra theo thẩm quyền và bàn giao toàn bộ hồ sơ, vật chứng vụ án cho Công an huyện Gia Lâm để xử lý theo quy định của pháp luật. Tại Cơ quan điều tra, Công an huyện G, Nguyễn Văn Đ khai nhận: Bản thân Nguyễn Văn Đ là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 13/05/2019, Đ đi xe buýt từ nhà đến Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh với mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đến Đình Bảng, Từ Sơn, Đ xuống xe đi bộ vào một ngõ nhỏ,đến trước cửa 01 ngôi nhà, Đ đưa tiền qua khe cửa để mua 01 gói ma túy với giá tiền là 100.000 đồng của một người không quen biết. Sau khi mua được ma túy Đ cầm gói ma túy ở tay trái và ra bến xe buýt đi về nhà, trên đường về đến khu vực thôn Y, xã Y, Gia Lâm, Hà Nội thì Đ xuống xe tìm nơi sử dụng thì bị Cơ quan Công an phát hiện, kiểm tra, bắt quả tang cùng vật chứng.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn Đ đã khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.
Với nội dung trêntại bản cáo trạng số:116/CT-VKSGL, ngày 20/08/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ ra trước Tòa án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo Nguyễn Văn Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đã khai nhận tại Cơ quan điều tra,bị cáo thừa nhận hành tàng trữ trái phép khối lượng 0,150 gamma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân là sai,vi phạm pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Thành phố Hà Nội thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số116/CT-VKSGL, ngày 20/08/2019. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết tội đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án phạt tù từ 18 tháng tù đến 22 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/5/2019.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có việc làm, thu nhập không ổn định.
Áp dụng Điều 47 củaBộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị tuyên:
Tịch thu và tiêu hủy: - 01 gói niêm phong có chữ ký xác nhận niêm phong của Nguyễn Văn Đ và Giám định viên. Trong gói niêm phong là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,130gam, do phòng kỹ thuật hình sự PC09 - CATP. Hà Nội hoàn lại sau giám định (Sau khi đã lấy mẫu 0,020gam để giám định). Bị cáo Nguyễn Văn Đ sau khi nghe quan điểm luận tội của đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, bị cáo thừa nhận có tội và thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,150 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân là sai,vi phạm pháp luật. Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội. Căn cứ vào chứng cứ và cáctài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ,khách quan, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn Đ: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng. Lời khai nhận tội củabị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, sơ đồ hiện trường, Kết luận giám định, Lời khai người làm chứng và các biên bản, tài liệu, chứng cứ khác đã được Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Bản thân Nguyễn Văn Đ là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 13/05/2019, Đ đi xe buýt từ nhà đến Đ, T, Bắc Ninh với mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đến Đ, Từ Sơn, bị cáo Đ xuống xe đi bộ vào một ngõ nhỏ đến trước cửa một ngôi nhà, Đ đưa tiền qua khe cửa mua 01 gói ma túy với giá tiền 100.000 đồng của một người không quen biết. Sau khi mua được ma túy Đ cầm gói ma túy vừa mua được ở tay trái ra bến xe buýt đi về nhà, trên đường về đến khu vực thôn Y, xã Y, huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội, thì Đ xuống xe để tìm nơi sử dụng ma túy, thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.
. Vật chứng Cơ quan Công an thu giữ của Nguyễn Văn Đ: 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng.
. Tại Kết luận giám định số 3017/KLGĐ –PC09 ngày 20/05/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: - Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,150 gam.
Heroine thuộc danh mục các chất ma túy mà Nhà nước cấm sử dụng.
. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:Hồi 16 giờ 25 phút ngày 13/05/2019 tại khu vực thôn Y, xã Y, huyện G, Thành phố Hà Nội. Bị cáo Nguyễn Văn Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,150 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện,bắt quả tang cùng vật chứng. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. [6]. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Khẳng định nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện G, truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ ra trước Tòa án theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Quan điểm của Viện kiểm sát là có căn cứ pháp luật. Mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến bào chữa, tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáođể bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội. [7]. Xét tính chất vụ án: Đánh giá tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự, trị an xã hội là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm khác. Bị cáolà người trưởng thành có thể chất phát triển bình thường, có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết pháp luật. Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng ngày 13/05/2019 bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép matúy loại Heroine, khối lượng 0,150 gam để bị cáo sử dụng cho bản thân. Vì vậy, cần xét xử vụ án nghiêm minh và giành cho bị cáo một mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. [8]. Về nhân thân bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Hội đồng xét xử đánh giá bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình để Cơ quan cảnh sát điều tra, điều tra kết thúc vụ án sớm và bị cáo đều có nhân thân tốt, đây là lần đầu bị cáo bị truy tố, xét xử. Ngoài ra,bị cáo là người có trình độ văn hóa chưa học hết lớp 12 nên hiểu biết có phần hạn chế.Vì vậy, bị cáo Đông được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng, bị cáo Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. [9]. Về Áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung. [10]. Về xử lý vật chứng: - Đối với 01 gói niêm phong có chữ ký xác nhận niêm phong của Nguyễn Văn Đông và Giám định viên. Trong gói niêm phong là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,130gam, do phòng kỹ thuật hình sự PC09
- CATP. Hà Nội hoàn lại sau giám định (Sau khi đã lấy mẫu 0,020gam để giám định).Đây là vật chứng nhà nước cấm lưu hành và liên quan đến tội phạm nên cần tịch thu và tiêu hủy.
. Các vấn đề khác trong vụ án: Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn Đ theo bị cáo khai là một người không quen biết. Quá trình điều tra, xác minh không xác định được địa điểm bị cáo mua ma túy, nhân thân của đối tượng nên Cơ quan điều tra, Công an huyện G tiếp tục thu thập tài liệu xác minh, khi nào làm rõ đối tượng sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện, là lao động tự do thu nhập không ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 15(Mười lăm) thángtù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/5/2019.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáoNguyễn Văn Đ. 3. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong có chữ ký xác nhận niêm phong củaNguyễn Văn Đ và Giám định viên. Trong gói niêm phong là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,130gam, do phòng kỹ thuật hình sự PC09 - CATP. Hà Nội hoàn lại sau giám định (Sau khi đã lấy mẫu 0,020 gam để giám định).
(Số vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng do Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Lâm đang quản lý theo Biên bản bàn giao vật chứng, tài sản ngày 21/8/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội).
4. Áp dụng Điều 136;Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo.Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết đinh được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Tòa án nhân dân TP. Hà Nội; - UBND xã Đông Hội, huyện Đông Anh, thành phố Hà N; (Thay cho thông báo kết quả xét xử) - Sở Tư pháp TP.Hà Nội; - Công an, VKSND huyện Gia Lâm; THADS huyện Gia Lâm; - Lưu: Hồ sơ vụ án; vp đồng xét xử đã tự mình đọc lại, công nhận đúng và cùng ký tên dưới đây Hội thẩm nhân dân đồng xét xử đã tự mình đọc lại, công nhận đúng và cùng ký tên dưới đây Hội thẩm nhân dân TOÀN ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Gia L©m, ngµy 13 th¸ng 4 n¨m 2017 BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội Với Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Thành Nam Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huy Cự Bà Nguyễn Thị Chấn Căn cứ vào Điều 199 và điều 222 của Bộ luật tố tụng hình sự Ngày 13 tháng 4 năm 2017, tại phòng nghị án Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án hình sự sơ thẩm đã thụ lý số 25/2017/TLST-HS, ngày 13/4/2017 đối với bị cáo Lê Quang Minh bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội truy tố về tội “Trộm cắp Thịnh sản” theo điểm c khoản 2 điều 138 – Bộ luật hình sự. Căn cứ vào các chứng cứ, Thịnh liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác, tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thảo luận về những vẫn đề phải giải quyết trong vụ án như sau: Kết quả biểu quyết đạt tỷ lệ 3/3= 100%. khoản 1,3 điều 52; điểm p khoản 1, khoản 2 điều 46; điều 33- Bộ luật hình sự Áp dụng điểm a,đ khoản 2 Điều 76 - Bộ luật tố tụng hình sự Áp dụng điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Kết quả biểu quyết đạt tỷ lệ 3/3 = 100%. biểu quyết đạt tỷ lệ 3/3 = 100%. để đảm bảo thi hành án. Kết quả biểu quyết đạt tỷ lệ 3/3 = 100%. dài 06cm hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Lâm (theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 21/3/2017). Kết quả biểu quyết đạt tỷ lệ 3/3 = 100%. theo quy định của pháp luật. Kết quả biểu quyết đạt tỷ lệ 3/3 = 100%. cáo theo quy định của pháp luật. Kết quả biểu quyết đạt tỷ lệ 3/3 = 100%. Hội đồng xét xử đều đã từng người, tự mình đọc lại toàn bộ biên bản nghị án này, công nhận là đúng và đầy đủ và ký xác nhận dưới đây. Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thành Nam Bản án gốc này có 05 trang, tại phòng nghị án, các thành viên trong Hội HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Bản án gốc này có 05 trang, tại phòng nghị án, các thành viên trong Hội HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 1. Về tội danh: Bị cáo Lê Quang Minh phạm tội “Trộm cắp Thịnh sản”. 2. Về điều luật áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 2 điều 138, điều 18; 1. Về mức hình phạt: Xử phạt: Lê Quang Minh 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06.01.2017. Kết quả Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Quang Minh 45 ngày, kể từ ngày tuyên án 4. Về vật chứng: tịch thu để tiêu hủy 01 đoạn vam phá khóa bằng kim loại 5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 6. Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng Biên bản nghị án này gồm có 01 tờ. Tại phòng nghị án, các thành viên của HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Chủ tọa phiên tòa |