vanban.org

Bản án 112/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 03/05/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/05/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình s ;

Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của b cáo Nguyễn Minh L. Gi nguyên quyết đ nh của ản án s th m. Tuyên ố: B cáo Nguyễn Minh L phạm tội “Vi phạm quy đ nh về điều khiển phư ng tiện giao thông đường ộ”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Minh L phạm tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phươn…"
  • Tòa quyết gì? C n cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình s ;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình s n m; Điều 202 Bộ luật hình s n m; Điều 357 Bộ luật dân s
TÒA ÁN NH N N
TỈNH ĐỒNG THÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2019/HS-PT
Ngày: 03-5-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông ê Kh c Th nh

Các thẩm phán: Ông Lê Hồng Nước

Bà Nguyễn Th Võ Trinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Hu nh V n Nh t Minh - Thư ký T a án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Kim Hóa - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 n m 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử công khai vụ án hình s phúc th m thụ lý số: 26/2019/TLPT- HS ngày 07 tháng 01 n m 2019 đối với b cáo Nguyễn Minh L.

Do có kháng cáo của cáo Nguyễn Minh L đối với ản án hình s s th m số 56/2018/HS-ST ngày 27 tháng 11 n m 2018 của T a án nhân huyện T.

- Bị cáo: Nguyễn Minh L ( ộc), sinh n m 199X; N i cư trú: Ấp X, xã Tân K, huyện T, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: àm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc t ch: Việt Nam; Con ông Nguyễn V n M, sinh n m 197X và à Nguyễn Th N, sinh n m 196X; Tiền án, tiền s : Không; Áp dụng iện pháp ng n chặn cấm đi khỏi n i cư trú, hiện cáo đang tại ngoại (có mặt).

- Người bị hại: Dư ng V n H, sinh n m 198X (đã chết);

Người đại diện hợp pháp cho người hại là Dư ng Trần Ngọc T, sinh ngày 19/10/200X (con ruột hại, v ng mặt);

Người đại diện hợp pháp cho T là: Trần Th Bé N1, sinh n m 198X (mẹ ruột T, có mặt);

Cùng cư trú: Ấp X, xã Tân K, huyện T, tỉnh Đ.

- Nguyên đơn dân sự: Dư ng V n T1, sinh n m 197X (có mặt);

Đ a chỉ: Ấp Mỹ T, xã M, huyện T, tỉnh Đ.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Cao Duy T2, sinh n m 199X (có mặt);

N i cư trú: Ấp Mỹ T, xã M, huyện T, tỉnh Đ.

2. Nguyễn Hoàng D, sinh n m 199X (v ng mặt);

N i cư trú: Ấp X, xã Tân K, huyện T, tỉnh Đ.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Th Mộng D1, sinh n m 198X (v ng mặt);

N i cư trú: Ấp X, xã Tân K, huyện T, tỉnh Đ.

2. Bùi Nguyên H1, sinh n m 194X (v ng mặt);

3. Nguyễn V n M1, sinh n m 197X (v ng mặt);

Cùng cư trú: Khóm X, th trấn M, huyện T, tỉnh Đ.

4. Dư ng V n N2, sinh n m 196X (có mặt);

5. Nguyễn Th Bích V, sinh n m 198X (có mặt);

Cùng cư trú: Khóm X, th trấn M, huyện T, tỉnh Đ.

6. ê V n C, sinh n m 196X (có mặt);

N i cư trú: Ấp X, xã Đ, huyện T, tỉnh Đ.

7. Đoàn V n X, sinh n m 198X (có mặt);

N i cư trú: Ấp X, xã Đ, huyện T, tỉnh Đ.

NỘI UNG V ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn iến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 07/02/2016, anh Cao Duy T2 điều khiển xe mô tô iển kiểm soát 66K8-88XX chở phía sau anh Dư ng V n H đi trên đường G Tháp thuộc tỉnh lộ ĐT 845 từ xã M, huyện T đi xã Mỹ A, huyện T. Cùng lúc đó, Nguyễn Minh L đang điều khiển xe mô tô iển kiểm soát 66M1-221.XX (xe này L mượn của anh Nguyễn Hoàng D), chở phía sau ch Nguyễn Th Mộng D1, chạy hướng từ trên cầu Ngân hàng xuống đường ê Quí Đôn để chuyển hướng rẽ trái về đường G Tháp. Khi đến đoạn đường giao nhau gi a đường ê Quí Đôn với đường G Tháp thuộc khóm X, th trấn M, huyện T, thì xe mô tô iển kiểm soát 66K8-88XX của anh T2 va chạm với xe mô tô iển kiểm soát 66M1-221.XX của cáo. Hậu quả làm anh H ngã v ng ra khỏi xe của anh T2 02m,

chấn thư ng vùng đầu được mọi người đưa đi cấp cứu. Đến sáng ngày 08/02/2016, anh H tử vong do chấn thư ng sọ não.

Tại Biên ản khám nghiệm hiện trường ngày 24/02/2016 thể hiện: Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường giao nhau gi a đường G Tháp có chiều ngang 07m và đường ê Quý Đôn có chiều ngang 08m, mặt đường ằng phẳng, không che khuất tầm nhìn, mặt đường cấu tạo ằng đá nh a. ấy lề trái hướng từ xã M đi xã Mỹ A, huyện T làm lề chu n, tâm vùng va chạm cách lề 5,35m.

Tại Biên ản d ng lại hiện trường ngày 01/9/2018 thể hiện: Hiện trạng đường G Tháp hai ên mép đường mỗi ên được mở rộng 3,5m, mặt đường hiện tại là 14m; mặt đường ê Quí Đôn hai ên mép đường được mở rộng mỗi bên là 02m, tổng cộng mặt đường hiện tại là 12m. ấy trụ điện số 58 làm mốc chu n và xác đ nh mép đường (cũ) ên trái hướng từ xã M đi xã Mỹ A, huyện T làm lề chu n, tâm vùng va chạm cách lề 5,35m.

Biên ản khám xe mô tô iển kiểm soát 66M1-221.XX ngày 08/02/2016 thể hiện: Mặt nạ trước ên trái

ể có kích thước 02cmx01cm; lốp ánh trước ên trái trầy xước có kích thước 10cmx02cm; niền trước ên trái trầy xước có kích thước 04cmx01cm; phuộc trước cong về phía sau.

Biên ản khám xe mô tô iển kiểm soát 66K8-88XX ngày 08/02/2016 thể hiện: Đầu chụp ugi

ể, ugi cong về phía sau; ốp má lốc máy ên phải ể có kích thước 9,5cmx04cm; phanh sau cong về sau; gác chân gi a ên phải

cong về phía sau; cản đỡ sau ( aga) ên trái trầy xước phần nh a có kích thước 26cmx2,5cm.

Tại Bản Kết luận giám đ nh pháp y về tử thi số 31/TTh-TTPY ngày 18/02/2016 của Trung tâm Pháp Y tỉnh Đồng Tháp kết luận đối với Dư ng V n H: Tử thi chết nghĩ đến do chấn thư ng sọ não nặng, nứt sọ, máu tụ nội sọ. Thời gian tử vong dưới 24 giờ.

Về trách nhiệm dân s : Anh H kết hôn với ch Trần Th Bé N1 sinh được một người con tên Dư ng Trần Ngọc T1, sinh ngày 19/10/20XX. Đến ngày 16/02/2012, anh H và ch N1 ly hôn, T do anh H nuôi dưỡng. Sau khi anh H chết ch N1 đã nuôi T. Nay yêu cầu cáo L ồi thường tiền cấp dưỡng đến khi T đủ 18 tuổi là 104.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần cho T là 60.000.000 đồng; tổng cộng là 164.000.000 đồng. B cáo L không chấp nhận ồi thường. Anh T2 t nguyện hỗ trợ tiền tổn thất tinh thần cho T là 20.000.000 đồng (ch N1 đã nhận số tiền này xong).

Anh Dư ng V n T1 yêu cầu cáo L ồi thường số tiền 40.000.000 đồng, trong tổng số 44.125.000 đồng (gồm: Tiền viện phí 5.800.000 đồng, tiền tàu xe 9.000.000 đồng, tiền t n liệm 8.000.000 đồng, tiền vật liệu và tiền công thợ xây mộ 21.325.000 đồng).

Về vật chứng: C quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm gi :

- Anh Cao Duy T2: 01 (một) xe mô tô iển kiểm soát 66K8-88XX, màu xanh, nhãn hiệu Honda, số máy 0344807.

- Nguyễn Minh L: 01 (một) xe mô tô iển kiểm soát 66M1-221.XX, màu xanh- đen, nhãn hiệu Yamaha, số máy 113462.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2018/HS-ST ngày 27/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện T đã quyết định:

Tuyên ố: B cáo Nguyễn Minh L ( ộc) đã phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình s n m 1999 sửa đổi, ổ sung n m 2009; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình s n m 2015 sửa đổi, ổ sung n m 2017.

Xử phạt: B cáo Nguyễn Minh L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày cáo chấp hành án.

Về trách nhiệm dân s : Áp dụng Điều 357, Điều 590, Điều 591 và Điều 593 của Bộ luật dân s .

- Chấp nhận s t nguyện của anh Cao Duy T2 hỗ trợ tiền tổn thất về tinh thần cho Dư ng Trần Ngọc T số tiền là 20.000.000 đồng (anh T2 đã giao tiền cho ch N1 là đại diện của T nhận đủ tiền).

- Buộc cáo Nguyễn Minh L ồi thường thiệt hại tiền chi phí cứu ch a, mai táng, thiệt hại khác, cho anh Dư ng V n T1 số tiền 30.000.000 đồng (Ba mư i triệu đồng).

- Buộc cáo Nguyễn Minh L có nghĩa vụ cấp dưỡng cho Dư ng Trần Ngọc T, sinh ngày 19/10/20XX, mỗi tháng ½ mức lư ng c sở do Nhà nước quy đ nh vào từng thời điểm thi hành án, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 02/2016 cho đến khi Dư ng Trần Ngọc T đủ 18 tuổi t lao động được.

- Buộc cáo Nguyễn Minh

ồi thường tiền tổn thất về tinh thần cho Dư ng Trần Ngọc T, sinh ngày 19/10/20XX số tiền là 20.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà ên phải thi hành án chưa thi hành án xong số tiền trên, thì hàng tháng ên phải thi hành án c n phải ch u tiền lãi ằng 50%/mức lãi suất theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân s tư ng ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.

Ngoài ra, án s th m c n tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật đ nh.

Ngày 07 tháng 12 n m 2018, b cáo Nguyễn Minh L có đ n kháng cáo với nội dung kêu oan.

Tại phiên t a, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu quan điểm:

Quá trình điều tra, b cáo L cho rằng không gây tai nạn cho anh H và cho rằng xe của anh T2 đụng vào xe của một người phụ n trên đường rồi mới đụng vào xe của b cáo, nhưng qua lời khai của nh ng người làm chứng như Đ an V n X, Nguyễn V n M1 chỉ thấy 02 xe va chạm. Còn nh ng người làm chứng khác lúc thì nói 02 xe va chạm, lúc thì cho rằng có xe thứ 3, nhưng không xác đ nh đ c đặc điểm, v trí và có lời khai không ổn đ nh, không thể làm chứng cứ để giải quyết vụ án. H n n a, các dấu vết để lại hiện trường theo biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 24/02/2016 và Biên bản d ng lại hiện trường ngày 01/9/2018, Biên bản khám nghiệm phư ng tiện ngày 08/02/2016 các dấu vết hư hỏng của 02 xe là phù hợp và các chứng cứ khác thì không có xe thứ ba va chạm vào mô tô của anh T2. Như vậy, b cáo điều khiển xe mô tô đi không đúng phần đường, lấn sang lề phải hướng đi của xe anh T2 nên xe của b cáo va chạm với xe của anh T2 chở phía sau anh Dư ng V n H, hậu quả làm anh H tử vong do chấn thư ng sọ não nặng. Sau khi gây ra tai nạn, b cáo cố tình không trình báo c quan có th m quyền, t ý di dời v trí xe làm thay đổi hiện trường vụ án. Do đó, b cáo phải có trách nhiệm về hành vi của mình. Mặt khác, trong quá trình điều tra b cáo không thừa nhận hành vi phạm tội nhưng tại phiên t a s th m ngày 17/11/2017 b cáo thừa nhận rẽ trái không đúng phần đường hậu quả dẫn đến va chạm xe của anh Cao Duy T2 điều khiển, phía sau chở anh Dư ng V n H tai nạn xảy ra làm cho anh H tử vong, nên b cáo cũng có lỗi.

Hành vi của b cáo Nguyễn Minh L đã phạm vào tội “Vi phạm quy đ nh về điều khiển phư ng tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình s n m 1999 sửa đổi, ổ sung n m 2009. Do đó cấp s th m đã áp dụng về tội danh và điều luật như trên để xử lý đối với b cáo L là có c n cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét mức hình phạt 09 tháng tù mà cấp s th m tuyên phạt đối với b cáo Nguyễn Minh L là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của b cáo gây ra, cấp s th m cũng đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho b cáo. Nay b cáo kháng cáo kêu oan là không có c n cứ nên không chấp nhận kháng cáo của b cáo.

Đề ngh Hội đồng xét xử c n cứ vào Điều 356 Bộ luật tố tụng hình s n m 2015 để quyết đ nh: Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của b cáo Nguyễn Minh L. Gi nguyên mức hình phạt tù như ản án s th m đã tuyên.

Luật sư ào ch a cho b cáo phát biểu quan điểm không thống nhất với án s th m cũng như quan điểm của v đại diện Viện kiểm sát ở phần nhận đ nh cho rằng b cáo lấy xe rời khỏi hiện trường nên b cáo có lỗi là chưa chính xác. B cáo khai trước khi xe anh T2 đụng vào xe b cáo thì xe anh T2 đã đụng vào một xe khác, nghĩa là có xe thứ ba xuất hiện tại hiện trường. Điều này c quan điều tra phải chứng minh. Việc anh T2 có uống rượu, bia khi tham gia giao thông nhưng không xác đ nh nồng độ cồn để xác đ nh lỗi là thiếu sót. Hồ s thể hiện 03 biên bản hiện trường nhưng 03 iên ản hiện trường này khác nhau về v trí tâm va chạm, cho thấy các biên bản hiện trường này chưa đảm bảo về pháp luật. Từ đó cho thấy việc anh T2 có uống rượu, ia, điều khiển xe đi với tốc độ cao, va chạm vào một xe khác rồi va chạm tiếp vào xe b cáo là có c n cứ. Án s th m chưa xem xét thấu đáo nh ng vấn đề vừa nêu, xin Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của b cáo.

Trong phần tranh luận, b cáo L không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét minh oan cho b cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên c sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

Tại phiên tòa b cáo Nguyễn Minh L không thừa nhận hành vi phạm tội mà cho rằng vào ngày xảy ra s việc, cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66M1-221.XX từ cầu Ngân hàng xuống đường ê Quí Đôn để rẽ trái vào đường G Tháp thì xe cáo chạy phía sau xe của một người phụ n . Khi đến n i giao nhau gi a đường ê Quí Đôn với đường G Tháp, xe của người phụ n dừng lại, xe cáo cũng dừng lại đậu ngang xe người phụ n cách phía sau khoảng h n 01 mét. Sau đó, cáo lại thay đổi lời khai là xe cáo chạy chậm chứ không dừng lại. Anh Cao Duy T2 điều khiển xe mô tô iển kiểm soát 66K8-88XX chở phía sau anh Dư ng V n H đụng vào ên trái ánh xe trước người phụ n rồi mới đụng vào xe cáo. Do đó, cáo không có lỗi. Khi đụng thì xe

cáo vẫn c n nằm ên lề phải theo hướng đi của cáo, c n cách lề phải ao nhiêu thì b cáo không iết. Sau khi va chạm thì có người đến nói “Do say rượu không sao đâu” và đưa anh T2, anh H đi cấp cứu nên cáo d ng xe lên và điều khiển rời khỏi hiện trường để về nhà. Khi Công an khám nghiệm hiện trường và d ng lại hiện trường vụ tai nạn thì v trí xe cáo không đúng, xe cáo c n nằm ên lề phải theo hướng đi của cáo mà Công an đem xe cáo qua lề trái và C quan điều tra cũng không giám đ nh nồng độ cồn của anh T2. Việc anh H tai nạn chết không phải do cáo gây ra.

Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại các phiên t a s th m, phúc th m, cáo thừa nhận trước khi C quan có th m quyền đến ảo vệ hiện trường, khám nghiệm hiện trường, thì cáo đã lấy xe Sirius biển kiểm soát 66M1-221.XX rời khỏi hiện trường, nên việc cáo cho rằng C quan điều tra khi lập Biên ản khám nghiệm hiện trường ngày 24/02/2016 và Biên ản d ng lại hiện trường ngày 01/9/2018 đặt v trí xe của b cáo điều khiển không đúng là không có c n cứ. Đồng thời, b cáo nại ra trước khi xe của anh T điều khiển đụng vào xe của b cáo, xe anh T2 đã đụng vào ên trái ánh trước xe của một người phụ n , tiếp đến xe anh T2 mới đụng xe cáo, việc này có người làm chứng Nguyễn Th Bích V, Dư ng V n N2 biết. Tuy nhiên, nh ng người làm chứng Nguyễn Th Bích V, Dư ng V n N2 xác đ nh có chiếc xe thứ 3 xuất hiện tại hiện trường, nhưng không xác đ nh được đặc điểm, v trí, giới tính của người điều khiển xe và có lời khai không ổn đ nh, lúc thì cho rằng xe thứ ba b ngã, lúc thì cho rằng không ngã nên lời khai của nh ng người này không thể làm chứng cứ để giải quyết vụ án. Mặt khác, các dấu vết để lại hiện trường theo Biên ản khám nghiệm hiện trường ngày 24/02/2016 và Biên bản d ng lại hiện trường ngày 01/9/2018 và các tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ s vụ án, thì không có xe thứ a va chạm vào xe mô tô của anh T2. Do đó, lời khai nại của b cáo L là không có c n cứ.

Theo quy đ nh, khi người tham gia giao thông tại đường giao nhau gi a đường không ưu tiên và đường ưu tiên hoặc gi a đường nhánh và đường chính thì xe đi từ đường không ưu tiên hoặc đường nhánh phải nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên hoặc đường chính từ bất k hướng nào tới. Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 24/02/2016 và Biên ản d ng lại hiện trường ngày 01/9/2018, lấy lề trái hướng từ xã Mỹ H a đi xã Mỹ An, huyện Tháp Mười làm lề chu n, tâm vùng va chạm cách lề 5,35m. Như vậy, b cáo đã th c hiện hành vi vi phạm Luật Giao thông đường bộ là điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66M1- 221.XX đi không đúng phần đường, lấn sang lề phải hướng đi xe của anh T2 là 1,85 mét, dẫn đến xe của b cáo và xe của anh T2 phía sau chở anh Dư ng V n Hiếu va chạm nhau; hậu quả làm anh H tử vong do chấn thư ng sọ não nặng, nứt sọ, máu tụ nội sọ, hai xe b hư hỏng. Việc anh T2 có sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông là vi phạm hành chính. Do đó, đã đủ c sở kết luận hành vi của b cáo Nguyễn Minh L đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình s n m 1999 sửa đổi, ổ sung n m 2009.

Tòa án cấp s th m đã xét xử b cáo L về tội “Vi phạm quy đ nh về điều khiển phư ng tiện giao thông đường bộ” theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình s n m 1999 sửa đổi, ổ sung n m 2009 là có c n cứ, đúng người, đúng tội, không oan ức gì cho b cáo. Mức hình phạt mà án s th m đã tuyên đối với b cáo là hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do b cáo gây ra và đã cân nh c, xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết t ng nặng, giảm nhẹ đối với b cáo. B cáo kháng cáo kêu oan nhưng với nh ng chứng cứ và luận cứ nêu trên cùng lời khai của người có quyền L và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã chứng minh hành vi của b cáo là có tội nên không chấp nhận kháng cáo của b cáo, gi nguyên quyết đ nh của bản án s th m đã tuyên.

Xét đề ngh của v đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với b cáo L là hoàn toàn có c n cứ và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét lời bào ch a của v luật sư cho cáo là chưa phù hợp như Hội đồng xét xử đã nhận đ nh, phân tích ở phần trên nên không có c n cứ để chấp nhận.

Do kháng cáo của b cáo L không được chấp nhận nên cáo phải ch u án phí hình s phúc th m theo luật đ nh.

Các phần khác của quyết đ nh ản án s th m không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu l c kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

C n cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình s ;

Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của b cáo Nguyễn Minh L. Gi nguyên quyết đ nh của ản án s th m.

Tuyên ố: B cáo Nguyễn Minh L phạm tội “Vi phạm quy đ nh về điều khiển phư ng tiện giao thông đường ộ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình s n m 1999 sửa đổi, ổ sung n m 2009; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình s n m 2015 sửa đổi, ổ sung n m 2017.

Xử phạt: B cáo Nguyễn Minh L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày cáo chấp hành án.

Về trách nhiệm dân s : Áp dụng Điều 357, Điều 590, Điều 591 và Điều 593 của Bộ luật dân s .

- Chấp nhận s t nguyện của anh Cao Duy T2 hỗ trợ tiền tổn thất về tinh thần cho Dư ng Trần Ngọc T số tiền là 20.000.000 đồng (anh T2 đã giao tiền cho ch N1 là đại diện của T nhận đủ tiền).

- Buộc cáo Nguyễn Minh L ồi thường thiệt hại tiền chi phí cứu ch a, mai táng, thiệt hại khác cho anh Dư ng V n T1 số tiền 30.000.000 đồng (Ba mư i triệu đồng).

- Buộc cáo Nguyễn Minh

ồi thường tiền tổn thất về tinh thần cho Dư ng Trần Ngọc T số tiền là 20.000.000 đồng.

- Buộc cáo Nguyễn Minh L có nghĩa vụ cấp dưỡng cho Dư ng Trần Ngọc T, sinh ngày 19/10/20XX, mỗi tháng ½ mức lư ng c sở do Nhà nước quy đ nh vào từng thời điểm thi hành án, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 02/2016 cho đến khi Dư ng Trần Ngọc T đủ 18 tuổi t lao động được.

Kể từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà ên phải thi hành án chưa thi hành án xong số tiền trên, thì hàng tháng ên phải thi hành án c n phải ch u tiền lãi ằng 50%/mức lãi suất theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân s tư ng ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình s n m 2015.

Trả lại cho:

- Anh Nguyễn Hoàng D: 01 (một) xe mô tô iển kiểm soát 66M1- 221.XX màu xanh đen hiệu Yamaha.

- Anh Dư ng V n T1: 01 (một) mô tô iển kiểm soát 66K8- 88XX màu xanh, hiệu Honda.

(Hiện Chi cục Thi hành án dân s huyện T đang quản lý theo iên ản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/7/2017).

Về án phí: B cáo Nguyễn Minh L phải ch u 200.000 đồng án phí hình s phúc th m.

Bản án phúc th m có hiệu l c pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ H C THẨM ơi nh n:

Cỡ chữ