- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn giữa bà M với ông Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của à Trương Thị ích M
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đ nh
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số:112/2019/HNGĐ-ST. Ngày: 11/6/2019. V/v tranh chấp Chia tài sản sau khi ly hôn. |
NHÂN DÔNG
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Trần Thanh nh
Các Hội thẩm nhân dân:
1 ng Lê Đức Thụy
2 ng Tô Ngọc Liêm
- Thư ký phiên tòa: à Võ Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: à Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2018/TLST-HNGĐ ngày 6 tháng 03 năm 2018 về trông chấp hôn nhân gia đ nh “Chia tài sản sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2019/QĐXX-ST ngày 18 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: à Trƣơng Thị Bích M – Sinh năm 1983 Có mặt
Địa chỉ: Ấp N, xã M, huyện C, tỉnh An Giang
Ủy quyền cho ông Phan Hòa N, sinh năm 1987 Địa chỉ: Khóm A, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt)
2. Bị đơn: ng Nguyễn Văn Đ – sinh năm 1982 vắng mặt
Địa chỉ: Ấp L, xã , huyện C, tỉnh An Giang
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. ng Nguyễn Thành B – sinh nhăm 1948 Có mặt.
3.2. à Nguyễn Thị T – sinh năm 1950 Có mặt
Địa chỉ: Ấp L, xã , huyện C, tỉnh An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá tr nh tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phan Hòa N tr nh ày: à M và ông Đ là vợ chồng đã ly hôn ản án Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới số: 118/2014/HNGĐ-ST ngày 26 9 2014 và Tòa án nhân dân tỉnh An Giang số 06/2015/HNPT ngày 27 01 2015, tài sản chung à M và ông Đ chưa thỏa thuận chia, ngày 19 11 2016 à M làm đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản sau ly hôn đối với các tài sản như sau:
Máy cắt lúa hiệu Ku ota (02 máy) (01 máy mua ngày 28/10/2010 giá 491 000 000đồng/máy; 01 máy mua ngày 10/5/2012 giá 535.000.000 đồng/máy)
Trẹc gỗ (dùng chở máy cắt) số lượng 02 chiếc: 01 chiếc mua năm 2010 trị giá 100 000 000 đồng/chiếc; 01 chiếc mua năm 2012 giá 100 000 000 đồng/chiếc
Máy kéo lúa loại cải tiến số lượng 02 máy: 01 máy mua năm 2010 giá 50 000 000 đồng/máy; 01 máy mua năm 2012 giá 50 000 000 đồng/máy
Máy dầu dùng đẩy trẹc số lượng 02 máy: 01 máy mua năm 2010 giá 8 000 000 đồng/ máy; 01 máy mua năm 2012 trị giá 8 000 000đồng/máy
01 xe tay ga hiệu Honda trị giá lúc mua 35 000 000đồng
Tổng giá trị tài sản 1 377 000 000đồng giá trị sử dụng còn lại 70% tương đương số tiền 963 000 000đồng yêu cầu chia hai mỗi người được hưởng là 481 500 000đồng
Đối với thu nhập chung: tính nh quân 01 chiếc máy cắt làm dịch vụ cắt thuê mỗi mùa vụ trừ chi phí, lợi nhuận mỗi chiếc hơn 100 000 000đồng x 02 máy = 200 000 000 đồng x 9 mùa vụ = 1 800 000 000đồng tính đến ngày 27/01/2015 yêu cầu chia ½ là 900 000 000đồng
ng Nhựt tr nh ày do tài sản hiên nay không còn khó khăn trong việc định giá tài sản nên ông yêu cầu chia số tài sản chung theo giá trị à M nhận 500 000 000đồng (Năm trăm triệu đồng)
Rút lại yêu cầu khởi kiện đối với diện tích đất 10 000m2.
Về nợ chung: ng Nguyễn Văn Đ mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thành , à Nguyễn Thị T để vay số tiền 500 000 000 đồng của Ngân hàng TMCP Đông Á để vợ chồng mua máy gặt đập liên hợp, đóng trẹt, hiện còn nợ 300 000 000 đồng chưa trả xong
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành và à Nguyễn Thị T tr nh ày: ng, à là cha mẹ của ông ông Đ Năm 2010, do nhu cầu mua máy cắt lúa nên vợ chồng ông Đ có mượn của ông, à 500 000 000 đồng để mua máy cắt lúa Năm 2012, tiếp tục mượn thêm 500 000 000 đồng mua thêm máy cắt lúa Sau khi à M ỏ đi, ông Đ ị ệnh và đã đã án toàn ộ tài sản để trả nợ
Đại diện Viện kiểm sát phát iểu ý kiến, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật Về giải quyết vụ án:
Đề nghị căn cứ Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đ nh và Điều 244 ộ luật tố tụng dân sự, xem xét:
Chấp nhận một phần yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn của à Trương Thị ích M
ng Nguyễn Văn Đ được sở hữu 01 máy gặt đập liên hợp, 01 chiếc chẹt gỗ chở máy, 01 máy kéo lúa, 01 máy dầu D24 gắn trên chẹt gỗ (hiện nay không còn) và 01 xe mô tô iển số 67T1 - 5037 (đã qua sử dụng)
uộc ông Nguyễn Văn Đ chia tài sản chung cho à Trương Thị ích M 95 000 000 đồng
Không chấp nhận yêu cầu của à Trương Thị ích M đối với các tài sản trị giá 386 500 000 đồng
Đ nh chỉ yêu cầu khởi kiện của à Trương Thị ích M đối với thu nhập của 02 máy gặt đập liên hợp 900 000 000 đồng và diện tích đất 10 000m2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
.Về thủ tục tố tụng: à Trương Thị ích M yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 ộ luật tố tụng dân sự ng Nguyễn Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do Căn cứ Điều 227 ộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án
.Về nội dung:
Hôn nhân giữa à M và ông Đ đã được giải quyết ằng ản án sơ thẩm số 118/2014/HNGĐ-ST ngày 26/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới và ản án phúc thẩm số 06/2015/HNGĐ-PT ngày 27/01/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử quyết định về quan hệ hôn nhân chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đong xin ly hôn à M Về quan hệ con chung à M được tiếp tục nuôi hai con chung, ông Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Về quan hệ tài sản: Đ nh chỉ xét xử đối với yêu cầu chia tài sản chung của ông Nguyễn Văn Đ và à Trương Thị ích M Tại đơn khởi kiện ngày 19/11/2016 à M yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng gồm: Máy cắt lúa hiệu Ku ota (02 máy) (01 máy mua ngày 28/10/2010; 01 máy mua ngày 10/5/2012; Trẹc gỗ (dùng chở máy cắt) số lượng 02 chiếc: 01 chiếc mua năm 2010; 01 chiếc mua năm 2012; Máy kéo lúa loại cải tiến số lượng 02 máy: 01 máy mua năm 2010; 01 máy mua năm 2012; Tiền mua máy thứ 2 là vay ngân hàng 300 000 000đ để mua, do anh Đ đi vay đến nay trả xong tiền có để trả là từ lợi nhuận khi máy hoạt động Máy dầu dùng đẩy trẹc số lượng 02 máy: 01 máy mua năm 2010; 01 máy mua năm 2012; 01 xe tay ga hiệu Honda loại Air lade và chia thu nhập chung của vợ chồng số tiền 900 000 000 đồng.
Nguyên đơn cung cấp chứng cứ là hợp đồng mua án ngày 28/5/2010, giữa Công ty Long nh và ông Nguyễn Văn Đ, máy gặt đập liên hợp KU OTA giá 491 000 000đ và Hợp đồng mua án ngày 10/5/2012, giữa Công ty Long nh và ông Nguyễn Văn Đ, máy gặt đập liên hợp KU OTA giá 535 000 000đ (Dự kiến giao hàng tháng 7/2012) Tại các iên ản hòa giải, Tờ tự khai khi Tòa án giải quyết vụ án Xin ly hôn năm 2014 ông Nguyễn Văn Đ tr nh ày: Năm 2010, do nhu cầu mua máy cắt lúa nên vợ chồng đã án vàng cưới cha mẹ hai ên cho được 120 000 000 đồng và mượn ông Nguyễn Thành , à Nguyễn Thị T (cha mẹ ông Đ) 500 000 000 đồng để mua máy cắt lúa Năm 2012, tiếp tục mượn thêm 500 000 000 đồng mua thêm máy cắt lúa; 02 máy kéo lúa; 02 chiếc trẹc chở máy; 02 máy dầu để trên trẹc và 01 xe máy hiệu Honda loại Air lade, nhưng ông đã án 01 máy cắt mua năm 2012, 02 chiếc trẹc, 02 máy đẩy, 01 xe kéo được số tiền 550 000 000 đồng để trả nợ Như vậy về tài sản chung của vợ chồng các ên thống nhất còn máy còn là máy cắt năm 2010 trị giá 150 000 000 đồng theo iên ản hòa giải ngày 19/7/2015; 01 xe hiệu Honda loại Air lade trị giá 10 000 000 đồng.
Đối với các tài sản chung không thống nhất, cụ thể: 01 máy gặt đập liện hợp mua năm 2012 giá 535 000 000đ máy được giao vào tháng 7/2012, 01 chiếc trẹc gỗ mua năm 2012, 01 máy kéo lúa mua năm 2012, 01 máy dầu D24 à M yêu cầu chia, ông Đ không đồng ý Xét thấy, theo hợp đồng mua án ngày 10/5/2012, đây là tài sản phát sinh trong thời kỳ ông Đ, à M xảy ra mâu thuẫn tháng 6/2012 th ông Đ à M không con chung sống với nhau, ông Đ xác định mượn tiền của ông , à T mua máy phía à M không có chứng cứ chứng minh việc mua máy gặt đập liên hợp từ tài sản chung của vợ chồng nên không có cơ sở xem xét đối với yêu cầu chia các tài sản này của à M
ng Đ thống nhất tài sản chung còn có 01 chiếc trẹc gỗ chở máy mua năm 2010, 01 máy kéo lúa, 01 máy dầu D24 gắn trên trẹc gỗ nhưng ông đã án để trả nợ nhưng ông không xuất tr nh chứng cứ g chứng minh án để trả nợ nên ông phải chịu trách nhiệm v đây được xem là tài sản có được trong thời kỳ hôn nhân tồn tại và được chia theo Điều 59 Luật hôn nhân và gia đ nh Theo iên ản định giá ngày 24/10/2018, các tài sản trên có giá: 01 chiếc trẹc gỗ 20 000 000 đồng, 01 máy kéo lúa 8 000 000 đồng, 01 máy dầu D24 giá 2 000 000 đồng Tổng cộng 30 000 000 đồng
Thu nhập của 02 máy gặt đập liên hợp: 200 000 000 đồng/mùa x 09 mùa = 1 800 000 000 đồng à M yêu cầu được chia 900 000 000 đồng Xét thấy, như phân tích ở trên th tài sản chung của ông Đ, à M là máy gặt đập liên hợp mua năm 2010 và được đưa vào khai thác, sử dụng từ năm 2011, là khoảng thời gian ông Đ, à M mâu thuẫn, à M không có công sức đóng góp vào tạo lập khối tài sản chung của vợ chồng mặc khác ng Đ cũng đã án hết số tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, à M tự nguyện rút lại yêu cầu chia thu nhập của 02 máy gặt đập liên hợp và diện tích đất 10 000m2. Xét việc rút lại yêu cầu khởi kiện của à M là tự nguyện và không trái quy định của pháp luật nghĩ nên đ nh chỉ yêu cầu này
Từ những phân tích trên số tài sản của à M và ông Đ được xem xét chia gồm: 01 máy cắt năm 2010 trị giá 150 000 000 đồng; 01 xe hiệu Honda loại Airblade trị giá 10 000 000đ; 01 chiếc trẹc gỗ 20 000 000 đồng, 01 máy kéo lúa 8 000 000 đồng, 01 máy dầu D24 giá 2 000 000 đồng Tổng cộng 190 000 000 đồng do anh Đ là người quản lý tài sản và đã án hết chỉ còn lại 01 xe hiệu Honda loại Air lade nghĩ nên tiếp tục giao xe hiệu Honda loại Air lade iển số 67 T1 – 5037 cho anh Đ được sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả lại cho chị M số tiền 95 000 000 đồng
Đối với số nợ chung của vợ chồng Tòa án đã thông áo cho ông Đ nhiều lần đến Tòa án để tham gia phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như xét xử nhưng ông Đ không đến Tòa án để tr nh ày về các khoản nợ chung Nếu ông Đ có yêu cầu đối với khoản nợ chung có quyền yêu cầu giải quyết ằng một vụ kiện dân sự khác
Về chi phí tố tụng: Chi phí định giá 800 000 đồng do nguyên đơn tạm nộp Mỗi ên phải chịu ½
Về án phí tài sản: à M phải chịu 5% án phí tài sản được chia là 4 750 000đ Căn cứ khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án à M không phải chịu án phí đối với phần yêu cầu chia tài sản không được chấp nhận, ông Đ phải chịu 5% án phí tài sản được chia là 4 750 000đ
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đ nh năm 2014; Điều 147; Điều 165; Điều 273, Điều 244 ộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của à Trương Thị ích M
à Trương Thị ích M được sở hữu số tiền 95 000 000 đồng (hiện ông Nguyễn Văn Đ đang quản lý)
ng Nguyễn Văn Đ được sở hữu 01 máy cắt mua năm 2010; 01 chiếc trẹc gỗ, 01 máy kéo lúa, 01 máy dầu D24 (tất cả đã án); xe môtô nhãn hiệu Honda loại Air lade iển số 67 T1 – 5037 (hiện anh đang quản lý);
ng Nguyễn Văn Đ có trách nhiệm hoàn lại cho à Trương Thị ích M số tiền 95 000 000 đồng đây là tài sản à Trương Thị ích M được sở hữu hiện ông đang quản lý
Không chấp nhận yêu cầu của à Trương Thị ích M đối với chia các tài sản gồm 01 máy gặt đập liện hợp mua năm 2012 giá 535 000 000 đồng, 01 chiếc trẹc gỗ mua năm 2012, 01 máy kéo lúa mua năm 2012, 01 máy dầu D24 Tổng cộng 386 500 000 đồng
Đ nh chỉ yêu cầu khởi kiện của à Trương Thị ích M đối với thu nhập của 02 máy gặt đập liên hợp 900 000 000 đồng và diện tích đất 10 000m2.
Về chi phí tố tụng: Chi phí định giá 800 000 đồng do nguyên đơn tạm nộp à M phải chịu 400 000đ, ông Đ phải chịu 400 000đ ng Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ hoàn lại cho à Trương Thị ích M số tiền 400 000đ
Về án phí DSST:
à Trương Thị ích M phải chịu 4 750 000 đồng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 13 361 000 đồng theo iên lai thu tiền số 0004863 ngày 07/12/2016 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới hoàn lại cho à Trương Thị ích M số tiền 8 611 000đ
ng Nguyễn Văn Đ phải chịu 4 750 000đ
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng ên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của ộ luật dân sự 2015
áo cho đương sự iết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án Riêng ông Nguyễn Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày ản án được giao hoặc được niêm yết
Trường hợp ản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc ị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
- TAND tỉnh An Giang;
- Chi cục THADS huyện Chợ Mới;
- VKSND huyện Chợ Mới;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án
Trần Thanh Bình TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN CHỢ MỚI
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH AN GIANG Bản án số:112/2019/HNGĐ-ST. Ngày: 11/6/2019. V/v tranh chấp Chia tài sản sau khi ly hôn.
NHÂN DÔNG
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Trần Thanh nh
Các Hội thẩm nhân dân:
1 ng Lê Đức Thụy
2 ng Tô Ngọc Liêm
- Thư ký phiên tòa: à Võ Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: à Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2018/TLST-HNGĐ ngày 6 tháng 03 năm 2018 về trông chấp hôn nhân gia đ nh “Chia tài sản sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2019/QĐXX-ST ngày 18 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: à Trƣơng Thị Bích M – Sinh năm 1983 Có mặt
Địa chỉ: Ấp N, xã M, huyện C, tỉnh An Giang
Ủy quyền cho ông Phan Hòa N, sinh năm 1987 Địa chỉ: Khóm A, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt)
2. Bị đơn: ng Nguyễn Văn Đ – sinh năm 1982 vắng mặt
Địa chỉ: Ấp L, xã , huyện C, tỉnh An Giang
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. ng Nguyễn Thành B – sinh nhăm 1948 Có mặt.
3.2. à Nguyễn Thị T – sinh năm 1950 Có mặt
Địa chỉ: Ấp L, xã , huyện C, tỉnh An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá tr nh tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phan Hòa N tr nh ày: à M và ông Đ là vợ chồng đã ly hôn ản án Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới số: 118/2014/HNGĐ-ST ngày 26 9 2014 và Tòa án nhân dân tỉnh An Giang số 06/2015/HNPT ngày 27 01 2015, tài sản chung à M và ông Đ chưa thỏa thuận chia, ngày 19 11 2016 à M làm đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản sau ly hôn đối với các tài sản như sau:
Máy cắt lúa hiệu Ku ota (02 máy) (01 máy mua ngày 28/10/2010 giá 491 000 000đồng/máy; 01 máy mua ngày 10/5/2012 giá 535 000 000 đồng/máy)
Trẹc gỗ (dùng chở máy cắt) số lượng 02 chiếc: 01 chiếc mua năm 2010 trị giá 100 000 000 đồng/chiếc; 01 chiếc mua năm 2012 giá 100 000 000 đồng/chiếc
Máy kéo lúa loại cải tiến số lượng 02 máy: 01 máy mua năm 2010 giá 50 000 000 đồng/máy; 01 máy mua năm 2012 giá 50 000 000 đồng/máy
Máy dầu dùng đẩy trẹc số lượng 02 máy: 01 máy mua năm 2010 giá 8 000 000 đồng/ máy; 01 máy mua năm 2012 trị giá 8 000 000đồng/máy
01 xe tay ga hiệu Honda trị giá lúc mua 35 000 000đồng
Tổng giá trị tài sản 1 377 000 000đồng giá trị sử dụng còn lại 70% tương đương số tiền 963 000 000đồng yêu cầu chia hai mỗi người được hưởng là 481 500 000đồng
Đối với thu nhập chung: tính nh quân 01 chiếc máy cắt làm dịch vụ cắt thuê mỗi mùa vụ trừ chi phí, lợi nhuận mỗi chiếc hơn 100 000 000đồng x 02 máy = 200 000 000 đồng x 9 mùa vụ = 1 800 000 000đồng tính đến ngày 27/01/2015 yêu cầu chia ½ là 900 000 000đồng
ng Nhựt tr nh ày do tài sản hiên nay không còn khó khăn trong việc định giá tài sản nên ông yêu cầu chia số tài sản chung theo giá trị à M nhận 500 000 000đồng (Năm trăm triệu đồng)
Rút lại yêu cầu khởi kiện đối với diện tích đất 10 000m2.
Về nợ chung: ng Nguyễn Văn Đ mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thành , à Nguyễn Thị T để vay số tiền 500 000 000 đồng của Ngân hàng TMCP Đông Á để vợ chồng mua máy gặt đập liên hợp, đóng trẹt, hiện còn nợ 300 000 000 đồng chưa trả xong
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành và à Nguyễn Thị T tr nh ày: ng, à là cha mẹ của ông ông Đ Năm 2010, do nhu cầu mua máy cắt lúa nên vợ chồng ông Đ có mượn của ông, à 500 000 000 đồng để mua máy cắt lúa Năm 2012, tiếp tục mượn thêm 500 000 000 đồng mua thêm máy cắt lúa Sau khi à M ỏ đi, ông Đ ị ệnh và đã đã án toàn ộ tài sản để trả nợ
Đại diện Viện kiểm sát phát iểu ý kiến, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật Về giải quyết vụ án:
Đề nghị căn cứ Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đ nh và Điều 244 ộ luật tố tụng dân sự, xem xét:
Chấp nhận một phần yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn của à Trương Thị ích M
ng Nguyễn Văn Đ được sở hữu 01 máy gặt đập liên hợp, 01 chiếc chẹt gỗ chở máy, 01 máy kéo lúa, 01 máy dầu D24 gắn trên chẹt gỗ (hiện nay không còn) và 01 xe mô tô iển số 67T1 - 5037 (đã qua sử dụng)
uộc ông Nguyễn Văn Đ chia tài sản chung cho à Trương Thị ích M 95 000 000 đồng
Không chấp nhận yêu cầu của à Trương Thị ích M đối với các tài sản trị giá 386 500 000 đồng
Đ nh chỉ yêu cầu khởi kiện của à Trương Thị ích M đối với thu nhập của 02 máy gặt đập liên hợp 900 000 000 đồng và diện tích đất 10 000m2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
.Về thủ tục tố tụng: à Trương Thị ích M yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 ộ luật tố tụng dân sự ng Nguyễn Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do Căn cứ Điều 227 ộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án
.Về nội dung:
Hôn nhân giữa à M và ông Đ đã được giải quyết ằng ản án sơ thẩm số 118/2014/HNGĐ-ST ngày 26/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới và ản án phúc thẩm số 06/2015/HNGĐ-PT ngày 27/01/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử quyết định về quan hệ hôn nhân chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đong xin ly hôn à M Về quan hệ con chung à M được tiếp tục nuôi hai con chung, ông Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Về quan hệ tài sản: Đ nh chỉ xét xử đối với yêu cầu chia tài sản chung của ông Nguyễn Văn Đ và à Trương Thị ích M Tại đơn khởi kiện ngày 19/11/2016 à M yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng gồm: Máy cắt lúa hiệu Ku ota (02 máy) (01 máy mua ngày 28/10/2010; 01 máy mua ngày 10/5/2012; Trẹc gỗ (dùng chở máy cắt) số lượng 02 chiếc: 01 chiếc mua năm 2010; 01 chiếc mua năm 2012; Máy kéo lúa loại cải tiến số lượng 02 máy: 01 máy mua năm 2010; 01 máy mua năm 2012; Tiền mua máy thứ 2 là vay ngân hàng 300 000 000đ để mua, do anh Đ đi vay đến nay trả xong tiền có để trả là từ lợi nhuận khi máy hoạt động Máy dầu dùng đẩy trẹc số lượng 02 máy: 01 máy mua năm 2010; 01 máy mua năm 2012; 01 xe tay ga hiệu Honda loại Air lade và chia thu nhập chung của vợ chồng số tiền 900 000 000 đồng.
Nguyên đơn cung cấp chứng cứ là hợp đồng mua án ngày 28/5/2010, giữa Công ty Long nh và ông Nguyễn Văn Đ, máy gặt đập liên hợp KU OTA giá 491 000 000đ và Hợp đồng mua án ngày 10/5/2012, giữa Công ty Long nh và ông Nguyễn Văn Đ, máy gặt đập liên hợp KU OTA giá 535 000 000đ (Dự kiến giao hàng tháng 7/2012) Tại các iên ản hòa giải, Tờ tự khai khi Tòa án giải quyết vụ án Xin ly hôn năm 2014 ông Nguyễn Văn Đ tr nh ày: Năm 2010, do nhu cầu mua máy cắt lúa nên vợ chồng đã án vàng cưới cha mẹ hai ên cho được 120 000 000 đồng và mượn ông Nguyễn Thành , à Nguyễn Thị T (cha mẹ ông Đ) 500 000 000 đồng để mua máy cắt lúa Năm 2012, tiếp tục mượn thêm 500 000 000 đồng mua thêm máy cắt lúa; 02 máy kéo lúa; 02 chiếc trẹc chở máy; 02 máy dầu để trên trẹc và 01 xe máy hiệu Honda loại Air lade, nhưng ông đã án 01 máy cắt mua năm 2012, 02 chiếc trẹc, 02 máy đẩy, 01 xe kéo được số tiền 550 000 000 đồng để trả nợ Như vậy về tài sản chung của vợ chồng các ên thống nhất còn máy còn là máy cắt năm 2010 trị giá 150 000.000 đồng theo iên ản hòa giải ngày 19/7/2015; 01 xe hiệu Honda loại Air lade trị giá 10 000 000 đồng
Đối với các tài sản chung không thống nhất, cụ thể: 01 máy gặt đập liện hợp mua năm 2012 giá 535 000 000đ máy được giao vào tháng 7/2012, 01 chiếc trẹc gỗ mua năm 2012, 01 máy kéo lúa mua năm 2012, 01 máy dầu D24 à M yêu cầu chia, ông Đ không đồng ý Xét thấy, theo hợp đồng mua án ngày 10/5/2012, đây là tài sản phát sinh trong thời kỳ ông Đ, à M xảy ra mâu thuẫn tháng 6/2012 th ông Đ à M không con chung sống với nhau, ông Đ xác định mượn tiền của ông , à T mua máy phía à M không có chứng cứ chứng minh việc mua máy gặt đập liên hợp từ tài sản chung của vợ chồng nên không có cơ sở xem xét đối với yêu cầu chia các tài sản này của à M
ng Đ thống nhất tài sản chung còn có 01 chiếc trẹc gỗ chở máy mua năm 2010, 01 máy kéo lúa, 01 máy dầu D24 gắn trên trẹc gỗ nhưng ông đã án để trả nợ nhưng ông không xuất tr nh chứng cứ g chứng minh án để trả nợ nên ông phải chịu trách nhiệm v đây được xem là tài sản có được trong thời kỳ hôn nhân tồn tại và được chia theo Điều 59 Luật hôn nhân và gia đ nh Theo iên ản định giá ngày 24/10/2018, các tài sản trên có giá: 01 chiếc trẹc gỗ 20 000 000 đồng, 01 máy kéo lúa 8 000 000 đồng, 01 máy dầu D24 giá 2.000 000 đồng Tổng cộng 30 000 000 đồng
Thu nhập của 02 máy gặt đập liên hợp: 200 000 000 đồng/mùa x 09 mùa = 1 800 000 000 đồng à M yêu cầu được chia 900 000 000 đồng Xét thấy, như phân tích ở trên th tài sản chung của ông Đ, à M là máy gặt đập liên hợp mua năm 2010 và được đưa vào khai thác, sử dụng từ năm 2011, là khoảng thời gian ông Đ, à M mâu thuẫn, à M không có công sức đóng góp vào tạo lập khối tài sản chung của vợ chồng mặc khác ng Đ cũng đã án hết số tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, à M tự nguyện rút lại yêu cầu chia thu nhập của 02 máy gặt đập liên hợp và diện tích đất 10 000m2. Xét việc rút lại yêu cầu khởi kiện của à M là tự nguyện và không trái quy định của pháp luật nghĩ nên đ nh chỉ yêu cầu này
Từ những phân tích trên số tài sản của à M và ông Đ được xem xét chia gồm: 01 máy cắt năm 2010 trị giá 150 000 000 đồng; 01 xe hiệu Honda loại Airblade trị giá 10 000 000đ; 01 chiếc trẹc gỗ 20 000 000 đồng, 01 máy kéo lúa 8 000 000 đồng, 01 máy dầu D24 giá 2 000 000 đồng Tổng cộng 190 000 000 đồng do anh Đ là người quản lý tài sản và đã án hết chỉ còn lại 01 xe hiệu Honda loại Air lade nghĩ nên tiếp tục giao xe hiệu Honda loại Air lade iển số 67 T1 – 5037 cho anh Đ được sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả lại cho chị M số tiền 95 000 000 đồng
Đối với số nợ chung của vợ chồng Tòa án đã thông áo cho ông Đ nhiều lần đến Tòa án để tham gia phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như xét xử nhưng ông Đ không đến Tòa án để tr nh ày về các khoản nợ chung Nếu ông Đ có yêu cầu đối với khoản nợ chung có quyền yêu cầu giải quyết ằng một vụ kiện dân sự khác
Về chi phí tố tụng: Chi phí định giá 800 000 đồng do nguyên đơn tạm nộp Mỗi ên phải chịu ½
Về án phí tài sản: à M phải chịu 5% án phí tài sản được chia là 4 750 000đ Căn cứ khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án à M không phải chịu án phí đối với phần yêu cầu chia tài sản không được chấp nhận, ông Đ phải chịu 5% án phí tài sản được chia là 4 750 000đ
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đ nh năm 2014; Điều 147; Điều 165; Điều 273, Điều 244 ộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của à Trương Thị ích M
à Trương Thị ích M được sở hữu số tiền 95 000 000 đồng (hiện ông Nguyễn Văn Đ đang quản lý)
ng Nguyễn Văn Đ được sở hữu 01 máy cắt mua năm 2010; 01 chiếc trẹc gỗ, 01 máy kéo lúa, 01 máy dầu D24 (tất cả đã án); xe môtô nhãn hiệu Honda loại Air lade iển số 67 T1 – 5037 (hiện anh đang quản lý);
ng Nguyễn Văn Đ có trách nhiệm hoàn lại cho à Trương Thị ích M số tiền 95 000 000 đồng đây là tài sản à Trương Thị ích M được sở hữu hiện ông đang quản lý
Không chấp nhận yêu cầu của à Trương Thị ích M đối với chia các tài sản gồm 01 máy gặt đập liện hợp mua năm 2012 giá 535 000 000 đồng, 01 chiếc trẹc gỗ mua năm 2012, 01 máy kéo lúa mua năm 2012, 01 máy dầu D24 Tổng cộng 386 500 000 đồng
Đ nh chỉ yêu cầu khởi kiện của à Trương Thị ích M đối với thu nhập của 02 máy gặt đập liên hợp 900 000 000 đồng và diện tích đất 10 000m2.
Về chi phí tố tụng: Chi phí định giá 800 000 đồng do nguyên đơn tạm nộp à M phải chịu 400 000đ, ông Đ phải chịu 400 000đ ng Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ hoàn lại cho à Trương Thị ích M số tiền 400 000đ
Về án phí DSST:
à Trương Thị ích M phải chịu 4 750 000 đồng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 13 361 000 đồng theo iên lai thu tiền số 0004863 ngày 07/12/2016 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới hoàn lại cho à Trương Thị ích M số tiền 8 611 000đ
ng Nguyễn Văn Đ phải chịu 4 750 000đ
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng ên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của ộ luật dân sự 2015
áo cho đương sự iết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án Riêng ông Nguyễn Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày ản án được giao hoặc được niêm yết
Trường hợp ản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc ị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS huyện Chợ Mới; - VKSND huyện Chợ Mới; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Bình |