- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Trọng D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 112 /2018/HS-ST Ngày: 04/7/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà : Bà Lê Thị Chiên
Các i thẩm nh n d n:
Bà Vũ Thị Thơ.
Bà Trần Thị Tuyết.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu - Thư ký Toà án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Đặng Quang Sơn - i m sát viên.
Trong ngày 04 tháng 7 năm 2018, tại Toà án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2018/TLST- HS ngày 01/6/2018, theo Quyết ịnh ưa vụ án ra xét xử số: 108/2018 Q ĐXXST-HS ngày 21/6/2018, ối với bị cáo: Vũ Trọng D - Tên gọi khác: không; Sinh ngày 08 4 1995, tại tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú: tổ 26, khu 3, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: inh; Tôn giáo: không; Trình ộ văn hoá: Lớp 12 12; Nghề nghiệp: tự do; Con ông: Vũ Minh ( ã chết 2015); Con bà: Trần Thị D; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo hiện bị áp dụng biện pháp cấm i khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa. *Người bị hại: Anh Hà Văn L; Nơi cư trú: thôn L; xã Đ; huyện T, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt tại phiên tòa. * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: 1. Bà Trần Thị D; tổ 26, khu 3, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên tòa. 2. Anh Lê Ngọc N; Nơi cư trú: tổ 5, khu 6, phường H, thành phố H , tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên tòa. Người làm chứng: 1. Chị Phạm Thị T - sinh: 1987; nơi cư trú: Tổ 60C, khu 4B, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt tại phiên tòa. 2. Anh Trần Văn Đ - sinh: 1985; nơi cư trú: xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; vắng mặt tại phiên tòa. 3. Anh Trần Văn T - sinh: 1988; nơi cư trú: Tổ 60C, khu 4B, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án ược tóm tắt như sau:
Tháng 12 2017, Vũ Trọng D ến làm việc tại Cửa hàng nhôm sắt T, ở tổ 60C, khu 4B, phường C, thành phố H do anh Trần Văn T làm chủ. Thời gian làm việc tại cửa hàng, D ược anh T bố trí cho ăn ngủ tại cửa hàng cùng với Hà Văn L và anh Trần Văn Đ ng. Thấy anh L có chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS mầu en, số serial E502SA XX024T- G3NXCV05F33010B, D nảy sinh ý ịnh trộm cắp. hoảng 01 giờ ngày 09 01 2018, lợi dụng khi mọi người trong phòng ang ngủ, D ã trộm cắp chiếc máy tích xách tay của anh L mang về nhà ở tổ 26, khu 3, phường H, thành phố H sử dụng. Đến 17 giờ ngày 26 01 2018, D mang chiếc máy tính ã trộm cắp của anh L ến cửa hàng sửa chữa máy tính Lê N, ở tổ 5, khu 6, phường H, thành phố H bán cho anh Lê Ngọc N ược 1.500.000 ng (một triệu năm trăm nghìn ng).
Tại kết luận ịnh giá tài sản số: 26 ngày 26 02 2018 của Hội ng ịnh giá tài sản thành phố H kết luận: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS mầu en, số serial E502SA XX024T - G3NXCV05F33010B, thời i m bị trộm cắp, trị giá 5.890.000 ng (năm triệu tám trăm chín mươi nghìn ng) (bút lục số 23).
Người bị hại: có lời khai xác nhận ịa i m, thời gian, tài sản bị mất và ã ược nhận lại tài sản ủ và có quan i m không yêu cầu b i thường (BL từ 27 ến 33).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Ngọc N xác nhận khoảng 17 giờ ngày 26/01/2018, có một thanh niên ến nói sửa máy Laptop, sau ó nói không sửa nữa mà bán với giá 1.500.000 , anh ng ý mua và ã trả tiền cho thanh niên này. Anh ã giao nộp máy Laptop cho cơ quan iều tra, anh ã ược nhận lại số tiền 1.500.000 do bà Dạn trả (BL từ 43 ến 48); Bà Trần Thị D xác nhận là mẹ của bị cáo, bà có bỏ ra số tiền 1.500.000
trả cho anh N. Nay bà không yêu cầu D hoàn trả lại cho bà. Người làm ch ng: Anh Trần Văn T, Trần Văn Đ và chị Phạm Thị T có lời khai xác nhận sự việc Hà Văn L bị mất máy Laptop tại phòng ngủ, Vũ Trọng D có khai nhận ã lấy trộm máy Laptop của Linh…(BL từ 34 ến 42). Tại bản cáo trạng số: 98/CT-VKSHL ngày 29/5 2018, Viện ki m sát nhân dân thành phố H ã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố H xét xử bị cáo Vũ Trọng D về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa ổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, ại diện Viện ki m sát nhân dân thành phố H giữ nguyên quan i m truy tố bị cáo Vũ Trọng D theo tội danh và iều luật như bản cáo trạng ã truy tố và ề nghị Hội ng xét xử: Căn c khoản 1, Điều 173; i m h,i,s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa ổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Vũ Trọng D từ 06 tháng tù ến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng ến 18 tháng, giao bị cáo cho Ủy ban nhân phường H quản lý trong thời gian thử thách.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong h sơ vụ án ã ược tranh tụng tại phiên tòa, Hội ng xét xử nhận ịnh như sau: [1] Tại phiên toà, bị cáo Vũ Trọng D ã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng ã nêu, phù hợp với Biên bản tạm giữ vật; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Bản ảnh hiện trường; Biên bản nhận dạng cùng với các tài liệu khác có trong h sơ vụ án. Nên có ủ cơ sở kết luận: hoảng 01 giờ ngày 09 01 2018, tại Cửa hàng nhôm sắt T, ở tổ 60C, khu 4B, phường C, thành phố H, Vũ Trọng D ã có hành vi trộm cắp 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS của anh Hà Văn L, trị giá 5.890.000 ng (năm triệu tám trăm chín mươi nghìn ng). Bị cáo Vũ Trọng D ã có hành vi lén lút, bí mật chiếm oạt tài sản của người khác có trị giá 5.890.000 ng, nên bị cáo Vũ Trọng D ã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1, Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa ổi bổ sung năm 2017, như kết luận của Ki m sát viên là có căn c úng người, úng tội, úng qui ịnh của pháp luật . Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hi m cho xã hội, bị cáo ã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của công dân ược pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ịa phương. Cần phải xử lý nghiêm bị cáo cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung. [2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự .
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần ầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên ược hưởng tình tiết giảm nhẹ qui ịnh tại i m i,s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa ổi bổ sung năm 2017. Tài sản chiếm oạt bị cáo bán và ã ăn tiêu hết số tiền thu bất chính, cơ quan Công an ã truy tìm vật ch ng và do anh N tự nguyện nộp. Nên bị cáo không ược áp dụng i m h, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. [4] Trên cơ sở xem xét tính chất, m c ộ nguy hi m của hành vi phạm tội cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, quá trình iều tra vụ án mặc dù bị cáo ã ược nhận Lệnh cấm i khỏi nơi cư trú nhưng bị cáo ã không chấp hành, bỏ i khỏi nơi cư trú, gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng. Hội ng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi ời sống xã hội một thời gian, cải tạo bị cáo. [5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng ối với bị cáo. [6] Về b i thường thiệt hại: Anh Hà Văn L xác nhận ã nhận lại ủ tài sản bị mất. Anh Lê Ngọc N cũng xác nhận ã nhận lại ủ số tiền do Mẹ bị cáo hoàn trả. Nên không ề cập. [7] Về vật ch ng: Cơ quan iều tra ã xử lý trả lại ủ cho người bị hại. Nên không ề cập. [7] Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự theo quy ịnh của pháp luật. [8] Quá trình iều tra, truy tố, xét xử vụ án này thì Điều tra viên, i m sát viên ã thực hiện úng các quy ịnh của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các l trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Trọng D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Căn c vào khoản 1, Điều 173; i m i,s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa ổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: bị cáo Vũ Trọng D 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo i thi hành án.
Căn c vào i m a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số: 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016.
Buộc bị cáo chịu 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Án xử công khai, có mặt bị cáo, bà D, anh N, vắng mặt bị hại. Báo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, bị cáo, bà D, anh N k từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại k từ ngày nhận ược hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh. - THA TP.H. - VKS TP.H. - CA TP.H. - Bị hại + Người liên quan. - Lưu HS + Bị cáo | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Chiên |