vanban.org

Bản án 112/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 15/05/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/05/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận háng cáo của ch Lê Th T4 yêu cầu xử b cáo Lê Th T t giam.

Tuyên bố: B cáo Lê Th T phạm tội “Cố gây thương tích”. Xử phạt: B cáo Lê Th T 01 (Một) năm cải tạo hông giam giữ. Th i hạn cải tạo hông giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục ngư i b t án nhận được quy t đ nh thi hành án và bản sao bản án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận háng cáo của ch Lê Th T4 yêu cầu xử b cáo Lê Th T t giam.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 36 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2018/HS-PT
Ngày: 15-5-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguy n Th Mai

Các thẩm phán: Ông Trần Phước Hội

Ông Ngô Tấn Lợi

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuấn Em – Thư Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công hai vụ án hình sự phúc thẩm thụ l số: 87/2018/TLPT-HS ngày 19 tháng 4 năm 2018 đối với b cáo Lê Th T.

Do có háng cáo của b hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 04/2018/HS-ST ngày 07 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân huy n H.

B cáo Lê Th T, sinh ngày 25/5/1992 tại Đồng Tháp; HKTT: p T1, xã T2, huy n T3, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở: ấp P, xã P1, huy n H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghi p: Mua bán; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc t ch: Vi t Nam; Con ông Lê Thành P2, sinh năm 1970 và bà Lê Th T3, sinh năm 1975; Có chồng Dương Quốc V, sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không; Áp dụng bi n pháp ngăn chặn cấm đi hỏi nơi cư trú: Ngày 14/10/2017; B cáo đang tại ngoại Có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hồ Thị X, Văn phòng Luật sư X1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp Có mặt).

B hại có háng cáo: Lê Th T4, sinh năm 1987 Có mặt).

Đ a chỉ: p P, xã P1, huy n H, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị h i: Luật sư Thái Q, Văn phòng Luật sư C, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp Có mặt).

Ngư i có quyền lợi, ngh a vụ liên quan hông háng cáo:

1/ Lê Văn H, sinh năm 1962 Có mặt).

2/ Dương Th B, sinh năm 1965 Có mặt).

C ng đ a chỉ: p P, xã P1, huy n H, tỉnh Đồng Tháp.

Ngoài ra, trong v án còn có bị cáo, người có quyền lợi, ngh a v liên quan không kháng cáo và Viện ki m sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và di n bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Do mâu thuẫn trong vi c tranh chấp đất ở giữa hai gia đình nên vào hoảng 15 gi 30 phút ngày 30/12/2016, Dương Th B đang ngồi ăn bún trước ti m bán thuốc tây của Lê Th T4 con B), thuộc ấp P, xã P1, huy n H, thì B li ng rau muống ra đư ng, lúc này Lê Th T3 mẹ T) chạy xe mô tô ra nhìn thấy nên hỏi B sao li ng rau muống qua đất của T3. B cho rằng mình li ng ngoài đư ng và xin lỗi nhưng T3 hông chấp nhận nên nảy sinh mâu thuẫn dẫn đ n cự cãi giữa T3, B và T4.

Lúc này, Lê Th T, Lê Thành P2 (cha của T), Lê Th B1 em của T), Dương Quốc V bạn trai của T) c ng với Lê Văn H chồng của B), Lê H1 (con của B) và Nguy n Văn C1 cháu của H) c ng nghe thấy ti ng B, T4 và T3 đang cự cãi nên mọi ngư i c ng đi ra cự cãi và xô xát với nhau. Ông H chạy vào ti m thuốc tây lấy cây s t d ng để quay mái hiên) chạy ra đ nh đánh V nhưng cây s t vướng vào mái hiên làm ông H té sấp xuống đư ng.

Trong lúc xô xát đánh nhau T4 n m tóc T3 giật té xuống đư ng, nên T3 d ng tay quơ qua lại trúng ngư i T4, thấy mẹ b đánh nên T chạy đ n đánh nhau với T4. T d ng tay phải n m tóc, tay trái quơ qua lại trúng nhiều cái vào mặt và vai T4. Lúc này, T4 trượt ngã xuống đư ng thì T cũng ngã theo, cả hai ti p tục n m tóc giằng co qua lại. C ng lúc đó, T3 d ng nón bảo hiểm đang cầm đánh trúng v ng đầu B thì được Nguy n Văn D và Lê Trung H2 đ n can ngăn và trình báo Công an xã P1 đ n giải quy t.

Vật chứng thu giữ: 01 cây s t dài 1,9m; 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa, màu xanh; Nhiều mảnh vỡ viên gạch màu vàng.

Đ n ngày 11/01/2017, Lê Th T4, Lê Thành P2, Dương Th B làm đơn yêu cầu xử l hình sự đối với ngư i gây thương tích cho mình.

Tại Bản t luận giám đ nh pháp y về thương tích số 24/TgT-TTPY ngày 16/02/2017, của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp, t luận Lê Th T4: Sẹo phần mềm v ng má phải, góc hàm trái ảnh hưởng thẩm mỹ TLTT: 11%); Sẹo phần mềm v ng vai phải TLTT: 01%); Sẹo phần mềm trên do vật bén tác động gây nên hướng từ trên xuống. Tỷ l thương tật 12% Tại th i điểm giám đ nh.

Tại Bản t luận giám đ nh pháp y về thương tích số 23/TgT-TTPY ngày 16/02/2017, của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp, t luận Lê Văn H: Sẹo v t thương phần mềm v ng đỉnh đầu ích thước nhỏ lành tốt; V t thương phần mềm trên do vật tày gây nên. Tỷ l thương tật 01%.

Tại Bản t luận giám đ nh pháp y về thương tích số 25/TgT-TTPY ngày 16/02/2017, của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp, t luận Dương Th B: Chấn thương phần mềm v ng đầu hông thấy dấu v t thương tích. Tỷ l thương tật 00%.

Đối với bà Lê Th T3 có hành vi d ng nón bảo hiểm đánh trúng v ng đầu bà Dương Th B với tỷ l thương tật 00%, hông đủ y u tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển sang Công an huy n H xử l hành chính đối với bà T3 về hành vi đánh nhau.

Đối với thương tích 01% trên đỉnh đầu của ông Lê Văn H quá trình điều tra ông H cho rằng do ông Lê Thành P2 gây ra nhưng ông P2 hông thừa nhận, và các chứng cứ hác chưa đủ cơ sở để hởi tố ông Lê Thành P2, nên Cơ quan điều tra ti p tục điều tra làm rõ xử l sau.

Đối với b cáo Lê Th T trong quá trình xô xát cũng b ch T4 đánh vào ngư i nhưng thương tích nhẹ và hông yêu cầu xử l hình sự đối với ch T4, nên hông đề cập đ n.

Ngày 07/11/2017, b cáo Lê Th T và b hại Lê Th T4 đã thỏa thuận thống nhất bồi thư ng các hoản tiền nằm vi n điều tr , tái hám, tiền ăn, thuê xe, ngày công lao động, tiền gây hư hại bảng hi u bán thuốc tây với tổng số tiền 6.550.000 đồng. Nhưng b hại T4 hông đồng nhận tiền mà yêu cầu chuyển đ n Tòa án nhân dân huy n H để giải quy t. Hi n nay, b cáo T đã nộp toàn bộ số tiền 6.550.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huy n H để h c phục hậu quả cho b hại T4.

Đối với yêu cầu bồi thư ng dân sự của bà Dương Th B yêu cầu bà Lê Th T3 bồi thư ng tiền nằm vi n, tái hám b nh, tiền thuê xe, ăn uống, ngày công lao động với tổng số tiền 4.971.000 đồng; ông Lê Văn H yêu cầu ông Lê Thành P2 bồi thư ng tiền nằm vi n, tái hám b nh, ăn uống, tiền thuê xe, ngày công lao động với tổng số tiền 7.630.000 đồng. Nhưng bà T3, ông P2 hông chấp nhận, xét thấy những yêu cầu này thuộc về tranh chấp dân sự đòi bồi thư ng thi t hại ngoài hợp đồng, nên tách ra xử l bằng vụ i n dân sự hác.

T i bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2018/HSST ngày 07/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện H đã quyết định:

Tuyên bố b cáo Lê Th T phạm tội “Cố gây thương tích”.

Áp dụng hoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s hoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt b cáo Lê Th T 01 một) năm cải tạo hông giam giữ, th i hạn cải tạo hông giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã T2, huy n T3 nhận được quy t đ nh thi hành án và bản sao bản án.

Giao b cáo Lê Th T cho Ủy ban nhân dân xã T2, huy n T3 quản l , giám sát, giáo dục trong th i gian chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, x lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 15 tháng 3 năm 2018, b hại Lê Th T4 có đơn háng cáo với nội dung áp dụng hình phạt t giam đối với b cáo Lê Th T. L do b cáo phạm tội có tính chất côn đồ, chưa thành thật nhận lỗi và tại phiên tòa phúc thẩm vẫn giữ nguyên yêu cầu háng cáo.

Tại phiên tòa, đại di n Vi n iểm sát nhân dân Tỉnh đề ngh : Căn cứ Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận háng cáo của b hại Lê Th T4 về vi c áp dụng hình phạt t giam đối với b cáo Lê Th T. Giữ nguyên quy t đ nh bản án sơ thẩm về hình phạt. Nhưng sửa án sơ thẩm, giao b cáo cho nơi b cáo cư trú quản l giáo dục trong th i gian thi hành án.

Ý i n Luật sư bào chữa cho b cáo Lê Th T: Luật sư thống nhất theo t luận của đại di n Vi n iểm sát Tỉnh, vì hành vi phạm tội của b cáo đã phạm vào tội “Cố gây thương tích” theo hoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, b hại yêu cầu hởi tố. Nhưng xét thấy nguyên nhân b cáo phạm tội là do b hại có hành vi đánh mẹ b cáo trước, b cáo hông iềm ch bản thân dẫn đ n phạm tội. Hai bên n m tóc nhau và b cáo chỉ d ng tay quơ qua lại gây thương tích cho ngư i b hại. Sau hi gây thương tích cho b hại thì b cáo cũng đã thấy được lỗi của bản thân. B cáo bồi thư ng dân sự theo yêu cầu ngư i b hại xong, hi phạm tội chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội và thuộc trư ng hợp ít nghiêm trọng. Án sơ thẩm chưa áp dụng hoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm hình phạt cho b cáo. B cáo có hộ hẩu ở huy n T3, nhưng cư trú tại huy n H là nơi ở ổn đ nh. Xét thấy hành vi phạm tội của b cáo án sơ thẩm xử mức hình phạt cải tạo hông giam giữ là ph hợp. Đề ngh Hội đồng xét xử hông chấp nhận háng cáo của b hại, giữ y án sơ thẩm.

Ý i n Luật sư bảo v quyền, lợi ích hợp pháp cho b hại hông thống nhất theo t luận của đại di n Vi n iểm sát và l i bào chữa của luật sư cho b cáo. Vì hành vi phạm tội của b cáo đã cố xâm phạm đ n sức hỏe của ngư i b hại và làm ảnh hưởng thẩm mỹ. Án sơ thẩm xử b cáo về tội “Cố gây thương tích” theo hoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng. Nhưng xét thấy mức hình phạt cải tạo hông giam giữ là chưa đủ điều i n răn đe, giáo dục b cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Chưa có căn cứ xác đ nh b hại là ngư i đánh ch T3 mẹ b cáo) trước, b cáo cáo d ng tay quơ qua lại để gây thương tích. Ngoài ra b cáo có hộ hẩu ở huy n T3, nơi cư trú tại huy n H là chưa có nơi ở ổn đ nh. Án sơ thẩm giao b cáo cho nơi b cáo có Hộ hẩu thư ng trú là hông đúng theo qui đ nh của pháp luật. Đề ngh Hội đồng xét xử chấp nhận háng cáo của b hại, sửa án sơ thẩm và xử t giam đối với b cáo.

- Ý i n b cáo Lê Th T: Tại phiên tòa thống nhất i n bào chữa của luật sư, xin hội đồng xét xử xét cho b cáo mức hình phạt cải tạo hông giam giữ để có điều i n lo cho gia đình và b cáo xin lỗi ngư i b hại về sự vi c xảy ra. B cáo xác nhận b cáo có hộ hẩu ở T3 là nhập vào nhà cô b cáo để đi học, nhưng hi n tại b cáo cư trú, sinh sống với cha, mẹ ở huy n H.

Ý i n b hại Lê Th T4: B hại giữ nguyên háng cáo, áp dụng hình phạt t giam đối với b cáo Lê Th T. L do b cáo phạm tội có tính chất côn đồ, chưa thành thật nhận lỗi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

B cáo Lê Th T và ch Lê Th T4 (b hại) có mối quan h là bà con và nhà ở sát vách với nhau. Gia đình hai bên có mâu thuẫn nhau trong vi c tranh chấp đất đang ch Tòa án Tỉnh giải quy t phúc thẩm. Chiều ngày 30/12/2016 ch Dương Th B mẹ ch T4) ăn bún li ng rau muống ra đư ng là mất v sinh nơi công cộng. Nhưng sự vi c hông có gì là lớn n u cả hai bi t cách giải quy t, hai bên hông như ng nh n nhau dẫn đ n cự cãi và xảy ra đánh nhau. B cáo thấy ch T3 mẹ b cáo) và ch T4 b hại) n m tóc đánh nhau. Đáng l ra b cáo phải bình t nh để giải quy t sự vi c và vào can ngăn hai bên. B cáo lại d ng tay phải n m tóc ch T4, tay trái quơ qua quơ lại trúng nhiều cái vào mặt và vai. B cáo và T4 trượt ngã xuống đư ng vẫn n m tóc nhau giằng co qua lại. Hậu quả ch T4 b sẹo phần mềm v ng má phải, góc hàm trái ảnh hưởng thẩm mỹ 11%, Sẹo phần mềm v ng vai phải 01%, tỷ l thương tật chung 12%. Ngư i b hại yêu cầu hởi tố b cáo và xử l hình sự theo qui đ nh của pháp luật.

Hành vi phạm tội của b cáo án sơ thẩm xử về tội “Cố gây thương tích ” là hoàn toàn có căn cứ. Xét thấy nguyên nhân dẫn đ n vụ án là do b hại có hành vi đánh mẹ b cáo trước, nên b cáo bênh vực vào n m tóc đánh ch T4 mà dẫn đ n phạm tội. B cáo chỉ d ng tay gây thương tích cho b hại và sau hi gây thương tích cho b hại thì b cáo cũng đã thấy được lỗi của bản thân. B cáo bồi thư ng dân sự theo yêu cầu của b hại xong, hi phạm tội chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội và thuộc trư ng hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú ổn đ nh. Bản thân b hại cũng có lỗi đánh mẹ b cáo trước làm cho b cáo hông iềm ch bản thân, án sơ thẩm lại nhận đ nh ch T4 chỉ có lỗi với mẹ b cáo và hông áp dụng hoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 là chưa ph hợp. Nhưng án sơ thẩm đã xem xét nguyên nhân dẫn đ n b cáo phạm tội, các tình ti t giảm nhẹ và xử b cáo mức hình phạt cải tạo hông giam giữ là ph hợp. Án sơ thẩm sơ sót hông tuyên giao b cáo cho chính quyền đ a phương nơi b cáo đang cư trú mà giao b cáo cho nơi b cáo có hộ hẩu thư ng trú là hông đúng, nên điều chỉnh lại cho ph hợp. Sau hi án sơ thẩm xử b hại háng cáo yêu cầu xử t giam b cáo, l do b cáo hông thành hẩn nhận lỗi và phạm tội có tính chất côn đồ là hông có căn cứ chấp nhận theo háng cáo. Ngoài ra b hại cũng hông xuất trình được các tình ti t mới để cấp phúc thẩm xem xét.

Tại phiên tòa luật sư bào chữa cho b cáo, đại di n Vi n iểm sát nhân dân Tỉnh đề ngh hông chấp nhận háng cáo của b hại yêu cầu xử t giam b cáo, giữ nguyên quy t đ nh bản án sơ thẩm về hình phạt là có căn cứ chấp nhận. Luật sư bảo v quyền, lợi ích hợp pháp cho b hại, đề ngh chấp nhận háng cáo của b hại yêu cầu xử t giam b cáo là hông có căn cứ chấp nhận như nhận đ nh trên.

Xét đơn hi u nại của ông Lê Văn H, bà Dương Th B án sơ thẩm xác đ nh là ngư i có quyền lợi, ngh a vụ liên quan trong vụ án. Nhưng lại hông nhận đ nh trong bản án để giải quy t phần yêu cầu của ngư i có quyền lợi, ngh a vụ liên quan là thi u sót, nên cấp phúc thẩm cần bổ sung như sau: Ông Lê Văn H b thương tích 01% trên đỉnh đầu, ông hai do ông Lê Thành P2 gây ra, nhưng ông P2 hông thừa nhận. Cơ quan điều tra chưa có chứng minh ông P2 gây ra thương tích cho ông, nên đã tách ra giải quy t bằng vụ án hác. Còn bà Dương Th B khai thương tích của bà do bà Lê Th T3 d ng nón bảo hiểm gây ra theo giám đ nh thương tích 00%. Cơ quan điều tra đã chuyển sang xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau là ph hợp qui đ nh của pháp luật. Còn tiền thuốc điều tr bà B hai do bà T3 đánh được quyền yêu cầu bằng vụ án dân sự hác.

Các phần hác của quy t đ nh án sơ thẩm hông có háng cáo, háng ngh có hi u lực pháp luật ể từ ngày h t hạn háng cáo, háng ngh .

Về án phí: B cáo Lê Th T hông phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm. Mi n tiền án phí hình sự phúc thẩm cho b hại Lê Th T4.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a hoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận háng cáo của ch Lê Th T4 yêu cầu xử b cáo Lê Th T t giam. Giữ nguyên quy t đ nh bản án sơ thẩm về tội danh, hình phạt và điều chỉnh lại nơi giám sát, giáo dục b cáo trong th i gian chấp hành án.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s hoản 1, hoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: B cáo Lê Th T phạm tội “Cố gây thương tích”.

Xử phạt: B cáo Lê Th T 01 (Một) năm cải tạo hông giam giữ. Th i hạn cải tạo hông giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục ngư i b t án nhận được quy t đ nh thi hành án và bản sao bản án.

Giao b cáo Lê Th T cho Ủy ban nhân dân xã P1, huy n H, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong th i gian chấp hành án.

Các phần hác của quy t đ nh bản án sơ thẩm hông có háng cáo, háng ngh có hi u lực ể từ ngày h t th i hạn háng cáo, háng ngh .

Về án phí: B cáo Lê Th T, b hại Lê Th T4 hông phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ