vanban.org

Bản án 112/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Mỹ K đƣợc ly hôn với anh Đoái Văn M.

Về con chung: Chị Trần Mỹ K giao hai con chung tên Đoái Chi N, sinh ngày 18/9/2000 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Mỹ K đƣợc ly hôn với anh Đoái Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 112/2018/HNGĐ-ST
Ngày 12-9-2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thi ̣ My Thanh.̃

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;

2. Bà Nguyễn Hồng Gấm.

- Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Thi ̣ Tố Anh – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 355/2018/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2018về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 119/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2018, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Mỹ K , sinh năm 1980; thƣờ ng trú : Ấp T, xã R, huyê ̣n T, tỉnh C; chỗ ở : Số 39 đƣờng T, khu phố T, phƣờng T, thị xã T, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Đoái Văn M , sinh năm 1972; thƣờ ng trú : ấp T, thị trấn C , huyê ̣n P, tỉnh C; tạm trú: Số 7/11, khu phố N, phƣờ ng D, thị xã D, tỉnh B. Vắng mă ̣t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 03 tháng 4 năm 2018, lờ i khai trong quá trình giải quyết vụ á n, nguyên đơn chi ̣ Trần Mỹ K trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Đoái Văn M tƣ̣ nguyê ̣n tim hiểu nhau và đăng

̀ ký kết hôn vào năm 1999 theo Giấy chƣ́ ng nhâ ̣n kết hôn số 94, quyển số01/1999 ngày 18/3/1999 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hƣng Tây , huyê ̣n Phú Xuân , tỉnh Cà Mau.

Sau khi kết hôn, thờ i gian đầu vợ chồng chung sống ta ̣i ấp C, xã N, huyê ̣n P, tỉnh C. Tƣ̀ năm 2003, anh chi ̣ chuyển về sinh sống ta ̣i ấp T , thị trấn C, huyê ̣n P, tỉnh C thì cuộc sống vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn . Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Đoái Văn M không lo làm ăn mà hay đánh bài , gây nợ nần. Chị đã nhiều lần tha thƣ́ bỏ qua nhƣng anh Đoái Văn M không thay đổi . Năm 2009, anh Đoái Văn M bỏ nhà đến làm ăn sinh sống tại huyện T , tỉnh B và anh chị không còn sống chung với nhau từ đó cho đến nay . Nay chi ̣ xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Đoái Văn M.

- Về con chung: Vợ chồng có con 02 con chung là Đoái Chi N n, sinh ngày

́ 18/9/2000 và Đoái Trọng N , sinh ngày 21/10/2003. Hiện 02 con chung đang sống cùng anh Đoái Văn M. Chị đồng ý giao cháu Đoái Tro ̣ng N cho anh Đoái Văn M nuôi dƣỡng và đồng ý cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến k hi cháu N đủ 18 tuổi. Đối với cháu Đoái Chi N sinh ngày 18/9/2000,

́ đến ngày 18/9/2018 đã đủ 18 tuổi nên chi ̣ vẫn đồng ý giao cho anh Đoái Văn M nuôi dƣỡng nhƣng chi ̣ không cấp dƣỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Đoái Văn M: Quá trình tố tụng, bị đơn anh Đoái Văn M đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thu ̣ lý v ụ án và các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh M để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 27/7/2018; tham gia phiên tòa vào các ngày 22/8/2018 và 12/9/2018 nhƣng anh Đoái Văn M vắng mặt không có lý do. Đồng thời, anh M cũng không có ý kiến, yêu cầu đối với yêu cầu khởi kiện của chi ̣ K.

Ngày 02/7/2018, Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống giữa anh Đoá i Văn M và chị Trần Mỹ K tại ấp C, xã N, huyê ̣n P, tỉnh C và được cung cấp: Anh Đoái Văn M và chị Trần Mỹ K không đăng ký thƣờ ng trú tại địa phƣơng , nhƣng anh M và chị K có sinh sống tại địa phƣơng đƣợc vài tháng, năm 2003, anh chi ̣ đa bõ ̉ đi ̣a phƣơng đi nơi khác sinh sống. Thờ i gian anh chị sinh sống tại địa phƣơng , chính quyền không nhận đƣợc yêu cầu nào giải quyết mâu thuẫn giƣ̃a hai anh chi ̣.

Ngày 03/7/2018, Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống giữa anh Đoá i Văn M và chị Trần Mỹ K tại ấp T, thị trấn C, huyê ̣n P, tỉnh C và được cung cấp : Năm 1999, anh M và chị K có sinh sống tại địa phƣơng nhƣng chi có anh M đăng ký hô ̣ khẩu thƣờ ng trú . Trong thờ i gian sinh sống, gia

̉ đinh anh chi ̣ không mâu thuẫn , cƣ̣ cải, chính quyền không nhận đƣợc yê u cầu ̀ nào giải quyết mâu thuẫn giữa hai anh chị

. Năm 2009, anh chi ̣ rờ i khỏi đi ̣a phƣơng để đi làm ăn sinh sống ở nơi khác , không biết anh chi ̣ đi đâu, làm gì. Kể tƣ̀ sau khi anh M đi khỏi đi ̣a phƣơng , hàng năm đều về lại quê vào dịp giỗ cha mẹ, còn chị K thì không thấy quay trở lại.

2

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật về tố tụng dân sự, nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Nguyên đơn chị Trần Mỹ K có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải; Bị đơn anh Đoái Văn M đã đƣợc triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhƣngvắng mặt hai lần liên tiếp không có lý do chính đáng. Căn cƣ́ các đi ều 207 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không tiến hành hòa giải đƣợc và Tòa án xét xử vắng mặt các đƣơng sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đoái Văn M và chị Trần My K là vợ̃ chồng, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 94/1999 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hƣng Tây , huyê ̣n Phú Tân, tỉnh Cà Mau vào ngày 18 tháng 3 năm 1999 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo nguyên đơn chi ̣ K trình bày, vợ chồng chung sống đƣợc vớ i nhau đến năm 2009 thì anh M tƣ̣ ý bỏ lên tinh B̉ để làm ăn sinh sống , anh chi ̣ cũng ly thân nhau tƣ̀ đó . Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng mâu thuẫn của v ợ chồng tại địa phƣơng, chính quyền địa phƣơng xác định không nhâ ̣n đƣợc thông tin trinh báo về mâu thuẫn vợ chồng

̀ của anh M, chị K nhƣng tƣ̀ khi anh chi ̣ bỏ đi khỏi đi ̣a phƣơng sinh sống thi chi ̉

̀ có anh M trở về thăm nhà , còn chị K không quay la ̣i đi ̣a phƣơng. Đồng thời, căn cứ lời khai của chị K cũng thể hiện anh chị đã sống ly thân nhau từ năm 2009. Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu anh M có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến nhằm hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng anh M không đến và cũng không có ý kiến, yêu cầu gì. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh M và chi ̣ K đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên cả hai bên đều không muốn hàn gắn. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chi ̣ K là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhâ ̣n.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đoái Chi N, sinh ngày

́ 18/9/2000 và Đoái Trọng N , sinh ngày 21/10/2003. Điều 81 Luật Hôn nhân gia đinh quy đ ịnh: “Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ ̀ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con…”. Hiê ̣n ta ̣i cháu Đoái Chi N có nguyện vọng đƣợc sống

́ tƣ̣ lâ ̣p, còn cháu Đoái Trọng N có nguyê ̣n vo ̣ng đƣợc sống cùng ch a Đoái Văn M. Xét việc chị Trần My K đỗ

̀ng ý giao hai con chung cho anh Đoái Văn M trƣ̣c tiếp nuôi dƣỡng và tự nguyện cấp dƣỡng nuôi con Đoái Tro ̣ng N mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại Điều 82 Luâ ̣t hôn nhân gia đinh nên Tòa án ghi nhâ ̣n. Riêng cháu Đoái Chi N đến

̀

́

3

ngày 18/9/2018 đủ 18 tuổi nên ch ị K không cấp dƣỡng nuôi con, anh M cũng không yêu cầu cấp dƣỡng nuôi con nên Tòa án không đặt ra.

Về tài sản chung và nợ chung: Đƣơng sự không tranh chấp nên Tòa án không giải quyết.

Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An về việc giải quyết vụ án.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Mỹ K phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dƣỡng theo theo quy đi ̣nh của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căncứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 110 và 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các điều 207, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5 và Điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Mỹ K đƣợc ly hôn với anh Đoái Văn M.

2. Về con chung:

Chị Trần Mỹ K giao hai con chung tên Đoái Chi N, sinh ngày 18/9/2000

́ và Đoái Trọng N , sinh ngày 21/10/2003 cho anh Đoái Văn M trực tiếp nuôi dƣỡng. Ghi nhâ ̣n sƣ̣ tƣ̣ nguyê ̣n của chi ̣ Trần My K cẫ

́p dƣỡng nuôi con Đoái Trọng N mỗi tháng 1.000.000 đồng (Mô ̣t triê ̣u đồng) cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, anh Đoái Văn M phải tạo điều kiện cho chị Trần Mỹ K thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không đƣợc quy ền cản trở chị Trần Mỹ K thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dƣỡng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền cấp dƣỡng nêu trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về tài sản chung và nghia vu ̣̃

chung về tài s ản (nợ chung): Đƣơng sự không có tranh chấp nên Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí dân sƣ̣ sơ thẩm: Chị Trần Mỹ K chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí ly hôn và 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí cấp dƣỡng nuôi con ,

4

đƣợc khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019211 ngày 10/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Chị Trần Mỹ K còn phải nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặctống đạt hợp lệ.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ