vanban.org

Bản án 112/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
HUYỆN!NGỌC!HIỂN!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Độc!lập!–!Tự!do!–!Hạnh!phúc!
!!!!!TỈNH!CÀ!MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 15-11-2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!NGỌC!HIỂN,!TỈNH!CÀ!MAU!!

-!Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:!

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Thanh Hải.

Ông Lê Ngọc Lâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Dung là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

Ngày 15 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 130/2018/TLST–HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2018/QĐXXST – HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 63/2018/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Mỹ L, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Cư trú tại: Ấp C, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn:!Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1979 (vắng mặt).

Cư trú tại: Ấp C, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau. !

NỘI!DUNG!CỦA!VỤ!ÁN:!

!

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 06/6/2018 nguyên đơn chị Trần Mỹ L trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T tự tìm hiểu và kết hôn vào năm 2004, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau. Trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên bất hòa do bất đồng quan điểm và xảy ra cự cãi, tính tình không còn phù hợp. Gia đình hai bên có hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về nuôi con chung: Gồm có 02 người con tên Nguyễn Ngọc Như Y, sinh ngày 03/10/2006 và Nguyễn Ngọc Như H, sinh ngày 07/10/2011. Hiện hai cháu đang sống cùng chị. Sau khi ly hôn, các con có nguyện vọng sống với ai thì người đó nuôi, người không nuôi không phải cấp dưỡng.

Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo Đơn xin vắng mặt đề ngày 25/10/2018 anh Nguyễn Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Trần Mỹ L tự tìm hiểu và kết hôn vào năm 2004, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau. Trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Nay chị L yêu cầu ly hôn anh đồng ý.

Về nuôi con chung: Gồm có 02 người con tên Nguyễn Ngọc Như Y, sinh ngày 03/10/2006 và Nguyễn Ngọc Như H, sinh ngày 07/10/2011. Hiện hai cháu đang sống cùng chị L. Sau khi ly hôn, các con có nguyện vọng sống với ai thì người đó nuôi, người không nuôi không phải cấp dưỡng.

Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Trần Mỹ L và anh Nguyễn Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

!

[1] Về tố tụng: Chị Trần Mỹ L và anh Nguyễn Văn T có đơn đề nghị vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Trần Mỹ L và anh Nguyễn Văn T.!

[2] Về hôn nhân: Chị Trần Mỹ L và anh Nguyễn Văn T tìm hiểu, tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2004 và đăng ký kết hôn vào năm 2006 tại UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số 257 năm 2006 đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Chị L nhận thấy cuộc sống của anh chị có nhiều bất hòa, hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị L yêu cầu ly hôn, anh T đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng của chị Lvà anh T là có xảy ra, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho anh chị. Xét thấy, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Mỹ L, chị Lđược ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

[3] Về nuôi con chung: Gồm 02 nguời tên Nguyễn Ngọc Như Y, sinh ngày 03/10/2006 và Nguyễn Ngọc Như H, sinh ngày 07/10/2011 hiện hai cháu đang sống cùng chị L. Sau khi ly hôn, chị L và anh T đều thống nhất các con có nguyện vọng sống với ai thì người đó nuôi, người không nuôi không phải cấp dưỡng. Theo đơn nguyện vọng đề ngày 27/7/2018 cháu Như Y và cháu Như H đều có nguyện vọng được sống cùng chị L. Do đó, để không làm xáo trộn cuộc sống của cháu Như Y và cháu Như H, cũng như tôn trọng theo nguyện vọng của hai cháu, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình để chị L tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Như Y, sinh ngày 03/10/2006 và Nguyễn Ngọc Như H, sinh ngày 07/10/2011. Đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

[4] Về chia tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án thì án phí dân sự sơ thẩm chị Trần Mỹ L phải chịu 300.000 đồng. Chị L đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005256 ngày 06/6/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển được chuyển thu.

[6] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Trần Mỹ L và anh Nguyễn Văn T.!

Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Mỹ L, chị Trần Mỹ L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

2. Về nuôi con chung: Chị Trần Mỹ L được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Như Y, sinh ngày 03/10/2006 và Nguyễn Ngọc Như H, sinh ngày 07/10/2011.

Anh Nguyễn Văn T không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của chị Trần Mỹ L.

3. Về chia tài sản: Không xem xét giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm chị Trần Mỹ L phải chịu 300.000 đồng. Chị L đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005256 ngày 06/6/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển được chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ