- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản giữa Nguyễn Văn Ph và La Văn H"
- Tòa quyết gì? Kh ng chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đ n ng Nguyễn Văn Ph và bà Nguyễn Th Kim L đối với b đ n ng La Văn H, về việc x lý trách nhiệm hình sự đối với ng La Văn H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 218 Bộ luật Tố t ng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố t ng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:112/2018/DS-ST Ngày: 09-11 -2018 V/v tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mƣời.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hiền.
2. Ông Ngô Trung Giàu.
Thư ký phiên tòa: Bà Lƣơng Thị Thùy Dƣơng -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lƣ Ngọc Thiên An- Kiểm sát viên.
Vào ngày 09 tháng 11 năm 2018, tại tr s Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre x t x s th m c ng khai v án dân sự đã th lý số: 70/2018/TLST-DS, ngày 24 tháng 4 năm 2018, về việc “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo uyết đ nh đưa v án ra x t x số: 142/2018/QĐXXST-DS, ngày 24 tháng 10 năm 2018, gi a các đư ng sự:
1.Nguyên đơn: 1/ Ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1958.
2/ Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1961.
Đ a chỉ: PH, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. Bà L ủy quyền hoàn toàn cho ng Nguyễn Văn Ph tham gia tố t ng, theo văn bản ủy quyền ngày 16/4/2018.
2. Bị đơn: Ông La Văn H, sinh năm 1955.
Đ a chỉ : PM, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.
Đ a chỉ tạm trú : xã TTB, huyện Mõ CB, tỉnh Bến Tre. Ông H có đ n yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 24/10/2018.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị H, sinh năm 1979.
Đ a chỉ : KPH, pPK, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. Bà H yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Ông Ph có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*/Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/4/2018; bản tự khai; biên bản phiên hợp tiếp cận và công khai chứng; biên bản hòa giải; cùng các chứng cứ cung cấp cho Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ph đồng thời được bà Nguyễn Thị Kim L ủy quyền trình bày:
Nguyên vợ chồng ng có s h u hai căn nhà số 15, 17 Lê Lợi, nằm trên hai th a đất 265, 266 tờ bản đồ 11, thuộc phường 1, thành phố Bến Tre. Phía Tây của hai th a đất có hàng rào pê t ng dầy 1,2 tấc cách 3 m t có một cây cột 4 tấc vu ng cáo 1 m t 8, dài 30 m t đã được gia cố v ng chắc vào năm 2002 và hàng rào này bắt đầu từ đường Lê Lợi k o dài đến hết hai th a đất 265 và 266. Bức tường này khi vợ chồng ng mua nhà, đất đã có rồi ; bức tư ng này xây cách nay khoảng 70 năm. Ngày 08 tháng 3 năm 2018 ng La Văn H tự ý đập bỏ bức tường rào nêu trên mà kh ng báo cho ng biết. B i vì bức tường rào này nằm trên hai th a đất của ng nên thuộc quyền s h u của vợ chồng ng, ng H kh ng báo cho ng biết là ng H đã phá hoại tài sản của c ng dân. Do quyền lợi của vợ chồng ng b xâm hại nên ng Ph và bà L đã chính thức nộp đ n kh i kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre vào ngày 13/4/2018 để yêu cầu ng La Văn H phải bồi thường tr giá bức tường rào là 50.000.000đồng cho ng Ph và bà L. S dỉ ng thay đổi ý kiến là do ng H tuyên bố là xây lại rồi, Tòa án x xong về đập tiếp nên ng mới kh i kiện tiếp, kh ng đồng ý rút đ n kh i kiện. Chứng cứ ng Ph cung cấp cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu của ng là có căn cứ là 02 giấy chứng nhận quyền s d ng đất th a 265, 266, tờ bản đồ 11 ; 01 biên bản hòa giải của Ủy ban nhân dân phường 1, thành phố Bến Tre ; 01 hồ s kỹ thuật hai th a đất 265, 266.
Nay ng Ph và bà L yêu cầu Tòa án buộc ng La Văn H bồi thường tr giá bức tường rào cho ng bà là 50.000.000 đồng. Ngoài ra, ng còn yêu cầu Tòa án x hình sự đối với ng La Văn H, do ng H đã có hành vi phá hoại tài sản của c ng dân theo quy đ nh của Bộ luật hình sự.
*/ Tại bản tự khai, biên bản phiên hợp tiếp cận và công khai chứng; biên bản hòa giải; cùng các chứng cứ cung cấp cho Tòa án bị đơn ông La Văn H có lời trình bày:
Phần đất do ng đứng tên thuộc th a 264, tờ bản đồ 11, tọa lạc phường 1. Nhà ng cách nhà ng Ph, bà L b i một hàng rào pê t ng theo như ng Ph trình bày. Hàng rào này kh ng do ng Ph xây dựng mà do các chủ trước xây dựng, đến nay đã h n 70 năm đã hư hỏng, nghiêng ngã, đe dọa đến tính mạng sức khỏe của gia đình ng. Vợ chồng ng Ph, bà L kh ng có sinh sống tại sồ nhà 15-17 Lê Lợi. Khoảng tháng 1/2018 thì ng đã bán nhà đất cho c Trần Th H, phần bức tường rào này cũng do c H đập phá chứ ng kh ng có đập. Theo hồ s kỹ thuật thì lộ hẽm 1,5m nằm trên th a đất 264 do ng đứng tên và ng đã đóng thuế khoảng 20 năm nay. Nay kh ng biết vì sao bức tường rào này nằm trên đất của ng Ph là điều v lý. Tại phiên hòa giải do Tòa án tổ chức thì gi a ng, ng Ph và c H đã tự thỏa thuận được cách thức giải quyết v án là như sau : Ông Ph, bà L đồng ý cho c H xây lại bức tường rào này trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày 17/9/2018 đến 17/11/2018 là hết hạn. Đến nay thì c H đã xây lại bức tường mà ng Ph, bà L kh ng ch u rút đ n kh i kiện đây là điều kh ng thể chấp nhận được. Nay qua yêu cầu của ng Ph, bà L thì ng kh ng đồng ý, vì bức tường c H đã xây xong và có Tòa án xuống n i tranh chấp để xác minh. Nay vì lý do sức khỏe ng yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt ng, ng cam đoan sẽ kh ng có khiếu nại gì về sau.
*/ Tại biên bản hòa giải; phiên họp công khai chứng, cùng các tài liệu cung cấp cho Tòa án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H có lời trình bày :
Phần đất và nhà của ng La Văn H đứng tên thì bà nhận chuyển nhượng của ng H vào khoảng tháng 1/2018 và đến nay phần nhà, đất này bà đã được câp chủ quyền s d ng cho bà. Và bức tường mà ng Ph đang tranh chấp với ng H thì bức tường này do chính bà đập, vì nó đã nghiêng ngã làm ảnh hư ng đến tính mạng sức khỏe của bà. Gi a bà và ng Ph, ng H đã cam kết thỏa thuận cho bà xây lại bức tường rào trên bức tường củ mà bà đã dập phá trước đây trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày 17/9/2018 đến 17/11/2018, đến nay thì bà đã xây lại bức tường rào xong mà ng Ph, bà L vẫn kh i kiện đây là điều kh ng thể chấp nhận được. Do bà đã xây lại xong bức tường và kh ng còn liên quan n a nên bà kh ng tham gia phiên tòa và yêu cầu Tòa án x t x vắng mặt bà.
*/Tại phiên tòa sơ thẩm Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre phát biểu quan điểm như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng x t x và sự tham gia tố t ng của các bên đư ng sự thực hiện theo đúng quy đ nh tại của Bộ luật tố t ng dân sự năm 2015.
- Về việc giải quyết v án: Căn cứ vào đ n yêu cầu giải quyết vắng mặt của ng La Văn H và bà Trần Th H và Tòa án đã tiến hành x t x vắng mặt ng H và bà H là đúng theo quy đ nh tại Điều 227 Bộ luật tố t ng dân sự năm 2015.
Theo đ n kh i kiện của nguyên đ n ng Nguyễn Văn Ph và bà Nguyễn Th Kim L, cùng các tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án và chứng cứ do Tòa án thu thập. Nội dung yêu cầu : Vào ngày 08/3/2018 thì ng La Văn H đã có hành vi đập phá bức tường rào pê t ng dầy 1,2 tấc cách 3 m t có một cây cột 4 tấc vu ng cáo 1 m t 8, dài 27.5 m t của vợ chồng ng mà kh ng hỏi ý kiến của vợ chồng ng nhưng ng Ph, bà L kh ng có chứng cứ chứng minh thiệt hại của bức tường này. Và căn cứ vào biên bản xem x t thậm đ nh tại chổ của Tòa án vào ngày 23/10/2018 thì đã xác đ nh hiện tại bức tường bà H đã xây xong. Và tại phiên tòa s th m ng Ph kh ng yêu cầu bồi thường tr giá bức tường là 50.000.000đồng, do vậy đình chỉ yêu cầu kh i kiện của ng Ph và bà L. Đối với yêu cầu của nguyên đ n về x lý trách nhiệm hình sự đối với ng La Văn H thì yêu cầu này kh ng thuộc th m quyền giải quyết trong v án tranh chấp dân sự. Mặc khác, đối với yêu cầu bồi thường tr giá 2m2 đất đ th của nguyên đ n do b đ n xây lại bức tường lấn đất của nguyên đ n, tại phiên tòa ng Ph, bà L cũng kh ng có căn cứ để chứng minh ng H, bà H xây lại bức tường đã lấn đất của ng, bà. Ông Ph, bà L có quyền kh i kiện ng H, bà H thành v kiện khác khi có chứng cứ. Do vậy, căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 218 Bộ luật dân sự năm 2015 đề ngh Tòa án đình chỉ một phần yêu cầu kh i kiện của ng Ph, bà L, về việc yêu cầu ng H bồi thường tr giá bức tường là 50.000.000đồng. Kh ng chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của nguyên đ n ng Nguyễn Văn Ph và bà Nguyễn Th Kim L, x lý trách nhiệm hình sự đối với ng La Văn H. Ông Ph, bà L có quyền kh i kiện tranh chấp quyền s d ng đối với ng H và bà H thành v kiện khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ s v án đã được xem x t tại phiên tòa, Hội đồng x t x x t thấy:
Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đ n bà Nguyễn Văn Ph và bà Nguyễn Th Kim L kh i kiện b đ n ng La Văn H, hiện tại ng H có ký hộ kh u thường trú tại số: 19, Lê Lợi, phường 1, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre nên thuộc th m quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre là phù hợp theo quy đ nh tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: B đ n ng La Văn H và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan bà Trần Th H có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt ng H và bà H, nên Tòa án x t x vắng mặt ng H và bà H là phù hợp theo quy đ nh tại Điều 227 Bộ luật tố t ng dân sự năm 2015.
Về quan hệ tranh chấp: Theo đ n kh i kiện ngày 12/4/2018 ng Nguyễn Văn Ph và bà Nguyễn Th Kim L cho rằng vào ngày 08/3/2018 thì ng La Văn H đã tự ý đập bức tường rào nằm trên hai th a đất 265, 266, tờ bản đồ 11, thuộc quyền s h u của ng Ph, bà L. Do đó mà quyền lợi của ng bà b thiệt thòi nên ng bà đã kh i kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre để yêu cầu ng H bồi thường tr giá bức tường cho ng bà là 50.000.000đồng là phù hợp theo quy đ nh tại Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về nội dung tranh chấp: Ngày 08 tháng 3 năm 2018 thì ng La Văn H có đập phá bức tường rào nằm trên th a đất 265, 266, tờ bản đồ 11,do ng Nguyễn Văn Ph và bà Nguyễn Th Kim L đứng, tọa lạc Lê Lợi, phường 1, thành phố Bến Tre thuộc quyền s h u của ng Ph, bà L mà ng H kh ng hỏi ý kiến của ng Ph, bà L. Lý do: Ông H đập phá bức tường rào này là do bức tường này xây dựng quá lâu, nó đã nghiêng ngã đã đe dọa đến tính mạng của gia đình ng nên ng mới đập phá bức tường này. Do quyền lợi của ng Ph và bà L b thiệt thòi nên nguyên đ n đã yêu cầu b đ n ng La Văn H bồi thường tr giá bức tường là 50.000.000đồng. uá trình hòa giải ng Ph cũng đồng ý cho bà H xây lại bức tường này trong thời hạn 02 tháng và hiện nay bà H đã xây lại xong bức tường nhưng ng Ph, bà L vẫn gi nguyên yêu cầu theo đ n kh i kiện ngày 12/4/2018; ngoài ra nguyên đ n còn yêu cầu x lý hình sự đối với ng H và yêu cầu bà H, ng H bồi thường tr giá 2m2 đất do xây lại bức tường lấn sang. B đ n ng La Văn H và người liên quan bà Trần Th H kh ng đồng ý qua yêu cầu của nguyên đ n, vì hiện tại bà H đã xây lại xong bức tường trên lằng bức tường củ đã đập phá.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ph và bà Nguyễn Thị Kim L: Tại phiên tòa s th m nguyên đ n ng Nguyễn Văn Ph kh ng yêu cầu ng La Văn H bồi thường tr giá bức tường là 50.000.000đồng. Do vậy, Tòa án đình chỉ một phần yêu cầu kh i kiện của nguyên đ n là phù hợp theo quy đ nh tại điểm c khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố t ng dân sự năm 2015. Nguyên đ n kh ng phải ch u án phí.
Xét đối với yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự của nguyên đơn đối với b đ n ng La Văn H, thấy rằng yêu cầu này kh ng thuộc th m quyền giải quyết của tranh chấp dân sự. Do yêu cầu này kh ng có căn cứ nên kh ng được chấp nhận.
Tại phiên tòa ng Phùng tranh chấp yêu cầu ng H và bà H phải bồi thường tr giá 2m2 đất đ th cho nguyên đ n, do xây lại bức tường lấn sang, tr giá là 90.000.000đồng. Xét thấy yêu cầu này của ông Ph kh ng có liên quan đến yêu cầu theo đ n kh i kiện là bồi thường tr giá bức tường là 50.000.000 đồng. Dành quyền kh i kiện cho ng Ph, bà L có quyền kh i kiện ng H và bà H thành v kiện khác.
- Theo biên bản đ nh giá ngày thì bức tường tranh chấp ngày 12/9/2018 thì hiện tại bức tường b phá vỡ và các bên đư ng sự kh ng xác đ nh được năm xây dựng để tính khấu hao. Do đó, chỉ tính chi phí hổ trợ đập phá, di dời là 4.000.000đồng.
- Chi phí thu thập chứng cứ là 2.125.000 ( Hai triệu một trăm hai mư i lăm nghìn) đồng ng Ph và bà L phải ch u và đã nộp xong.
Xét lời trình bày của bị đơn ông La Văn H cho rằng: ua yêu cầu của ng Ph, bà L là ng kh ng đồng ý. Lý do: Phần nhà, đất thuộc th a 264, tờ bản đồ 11 ng đã bán cho bà H và hiện tại bà H đứng tên nhà, đất này. Và bức tường rào này do bà H đập phá chứ ng kh ng có đập phá và bà H cũng đã đồng ý xây lại bức theo sự đồng ý của ng Ph tại phiên hòa giải do Tòa án tổ chức. Căn cứ vào biên bản xem x t th m đ nh tại chổ của Tòa án vào ngày 23/10/2018 thì hiện tại bức tường được bà H xây xong, do vậy mà đối tượng khỏi kiện kh ng còn. Do đó, ý kiến của ng H là có căn cứ và phù hợp với thực tế và phù hợp với yêu cầu của nguyên đ n tại phiên tòa s th m.
Xét lời trình bày của người liên quan bà Trần Thị H cho rằng:
ua yêu cầu của ng Ph, bà L thì bà kh ng đồng ý. Lý do: Hiện tại bà đã xây lại bức tường rào mà ng Ph tranh chấp xong, nên bà kh ng có liên quan gì đến v án này. Bà xin giải quyết vắng mặt. X t thấy yêu cầu của bà H là phù hợp với yêu cầu của ng Ph tại phiên tòa s th m, nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5%: Căn cứ Ngh quyết số: 326/2016/UBTV H14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v uốc hội quy đ nh về án phí, lệ phí Tòa án. Do tại ng Phù, bà L rút lại yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản b xâm phạm nên ng Nguyễn Văn Ph và bà Nguyễn Th Kim L kh ng phải ch u án phí theo quy đ nh.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 584 của Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 273, điểm c khoản 1 Điều 218 và Điều 280 của Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015; Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v uốc hội.
Tuyên x :
- Kh ng chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đ n ng Nguyễn Văn Ph và bà Nguyễn Th Kim L đối với b đ n ng La Văn H, về việc x lý trách nhiệm hình sự đối với ng La Văn H.
- Đình chỉ một phần yêu cầu kh i kiện của nguyên đ n ng Nguyễn Văn Ph và bà Nguyễn Th Kim L đối với b đ n ng La Văn H, về việc yêu cầu bồi thường thiệt do tài sản b xâm phạm là bức tường, tr giá 50.000.000 (Năm mư i triệu) đồng. Ông Ph và bà L kh ng phải ch u án phí.
*/ Chi phí thu thập chứng cứ là 2.125.000 (Hai triệu một trăm hai mư i lăm nghìn) đồng, nguyên đ n phải ch u và đã nộp xong.
*/ Về án phí dân sự s th m: Ông Nguyễn Văn Ph và bà Nguyễn Th Kim L kh ng phải ch u. Chi c c thi hảnh án dân sự thành phố Bến Tre hoàn lại số tiền 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn) đồng biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0015602 ngày 20 tháng 4 năm 2018 của Chi c c thi hành án dân sự thành phố Bến Tre cho ng Nguyễn Văn Ph và bà Nguyễn Th Kim L.
- Ông Nguyễn Văn Ph có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày tròn kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre x t x theo trình tự phúc th m. Riêng ng La Văn H và bà Trần Th H vắng mặt tại phiên tòa cũng được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre x t x theo trình tự phúc th m.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa v liên quan, có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (P. KTNV&THA); - VKSND- Tp Bến Tre, t. Bến Tre; - Chi c c THADS-Tp Bến Tre, t. Bến Tre; - Các bên đư ng sự; - Lưu hồ s v án. . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Huỳnh Thị Mƣời |