vanban.org

Bản án 112/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H đối với bị đơn ông Nguyễn Ngọc A về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc ông Nguyễn Ngọc A có trách nhiệm thanh toán cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H các khoản tiền góp còn lại của hợp đồng và thanh toán khoản tiền phạt do vi phạm nghĩa vụ thanh toán tổng cộng là 15.716.000 đồng ( Mười lăm triệu bảy trăm mười sáu nghìn đồng), trả một lần ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Home- Ân"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H đối với bị đơn ông Nguyễn Ngọc A về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 468 Bộ luật Dân sự; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
TP. HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112 /2017/DS-ST
Ngày: 30/11/2017
V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Vân Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Vạn

2. Ông Võ Hoàng Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tấn Hải- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2017, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 415/2016/TLST-DS ngày 12/10/2016 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 368/2017/QĐST-DS ngày 12/10/2017; Quyết định hoãn phiên tòa số 302/2017/QĐST-DS ngày 08/11/2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Tài chính TNHH MTV H

Địa chỉ: Số 4, phường 2, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền ông Lại Văn Đồng- nhân viên Công ty

Địa chỉ: Số 47, phường 2, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1974

Địa chỉ: F1 ấp 6, xã X, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh

(Ông Đ có mặt, ông A vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 04/8/2016, bản tự khai - nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H có người đại diện theo ủy quyền là ông Lại Văn Đ trình bày:

Vào ngày 27/10/2013 Công ty tài chính TNHH MTV H và ông Nguyễn Ngọc A có ký hợp đồng tín dụng số 2301010347 với nội dung Công ty tài chính TNHH MTV H cho ông A vay số tiền 26.486.000 đồng, sử dụng vào mục đích tiêu dùng, thời hạn vay 24 tháng, lãi suất 6%/tháng.

Theo như thỏa thuận trong hợp đồng thì ông A phải thanh toán cho Công ty tài chính TNHH MTV H số tiền là 50.976.000 đồng( bao gồm nợ vay gốc và lãi) trong thời hạn 24 tháng, trả góp vào ngày 10 tây hàng tháng với số tiền 2.124.000 đồng, kỳ trả đầu tiên vào ngày 10/11/2013. Nếu ông A không thực hiện theo như thỏa thuận thì còn phải chịu thêm khoản tiền phạt do vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì ông A đã trả được 19 lần với tổng số tiền là 37.610.000 đồng. Tuy nhiên từ ngày 02/10/2015 cho đến nay ông A không thực hiện việc trả tiền cho Công ty tài chính TNHH MTV H mặc dù Công ty đã nhiều lần nhắc nhở, thông báo.

Nay tại phiên tòa ông Lại Văn Đồng – đại diện cho Công ty tài chính TNHH MTV H yêu cầu ông A trả số tiền còn lại tổng cộng là 15.716.000 đồng, trả một lần ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn ông Nguyễn Ngọc A vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông A.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.Viện kiểm sát nhân nhân huyện Bình Chánh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Công ty tài chính TNHH MTV H với ông Nguyễn Ngọc A đối với số tiền 15.716.000 đồng ( Mười lăm triệu bảy trăm mười sáu nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bị đơn ông Nguyễn Ngọc A , hiện ông A có nơi cư trú tại huyện C. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.

Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng và giấy triệu tập đương sự theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về áp dụng pháp luật: Do hợp đồng dân sự của các bên đương sự thực hiện vào thời điểm Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực nên Tòa án áp dụng Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết vụ án.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy như sau: Tại phiên tòa, nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Ngọc A thanh toán các khoản tiền góp còn lại của hợp đồng là 15.716.000 ( Mười lăm triệu bảy trăm mười sáu nghìn đồng).

Bị đơn ông Nguyễn Ngọc A mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và phiên họp công khai chứng cứ cũng như việc tham gia phiên tòa xét xử giải quyết vụ án với nguyên đơn nhưng ông A vẫn vắng mặt. Vì vậy, ông A đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời trình bày cũng như chứng cứ do nguyên đơn cung cấp làm chứng cứ giải quyết vụ án.

Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng trả góp số 2301010347 lập ngày 27/10/2013 giữa nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H và bị đơn ông Nguyễn Ngọc A, Bảng kê chi tiết vốn lãi và lời khai của nguyên đơn có cơ sở xác định ngày 27/10/2014 ông Nguyễn Ngọc A có vay của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H số tiền là 26.486.000 đồng ( Hai mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn đồng). Theo như hợp đồng thì hai bên thỏa thuận tổng số tiền ông A có nghĩa vụ trả góp hàng tháng cho Công ty bao gồm nợ vay gốc và lãi là 50.976.000 đồng, mỗi tháng trả góp vào ngày 10 tây hàng tháng, số tiền trả góp hàng tháng là 2.124.000 đồng. Sau đó ông A có trả được 19 lần với tổng số tiền 37.610.000 đồng.

Ngoài ra, theo thỏa thuận tại mục 6.2 Điều 6 của Hợp đồng tín dụng trả góp số 2301010347 thì ông A còn phải chịu phạt vi phạm hợp đồng do vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

Hội đồng xét xử xét thấy, theo Giấy phép thành lập và hoạt động công ty tài chính số 112/GP-NHNN ngày 18/4/2008 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H là tổ chức tín dụng, vì vậy theo quy định tại khoản 2 Điều 3 và khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do đó, từ những căn cứ đã viện dẫn thì Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H buộc ông Nguyễn Ngọc A có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H các khoản tiền góp còn lại của hợp đồng và thanh toán khoản tiền phạt do vi phạm nghĩa vụ thanh toán tổng cộng là 15.716.000 ( Mười lăm triệu bảy trăm mười sáu nghìn đồng), trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp ông Nguyễn Ngọc A chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền như trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Cụ thể ông Nguyễn Ngọc A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 785.800 đồng (Bảy trăm tám mươi lăm nghìn tám trăm đồng); nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, Điều 179, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2005;

Áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 2 Điều 3 và khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Áp dụng Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H đối với bị đơn ông Nguyễn Ngọc A về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc ông Nguyễn Ngọc A có trách nhiệm thanh toán cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H các khoản tiền góp còn lại của hợp đồng và thanh toán khoản tiền phạt do vi phạm nghĩa vụ thanh toán tổng cộng là 15.716.000 đồng ( Mười lăm triệu bảy trăm mười sáu nghìn đồng), trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Các bên đương sự thực hiện việc giao nhận tiền tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp ông Nguyễn Ngọc A chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền như trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Ngọc A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 785.800 đồng (Bảy trăm tám mươi lăm nghìn tám trăm đồng).

Hoàn lại cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 392.900 đồng ( Ba trăm chín mươi hai nghìn chín trăm đồng) theo biên lai thu số 0020680 ngày 22/8/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ