vanban.org

Bản án 1116/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hà HGHGH Về quan hệ hôn nhân: bà Hà HGHGHđược ly hôn với ông Nguyễn HFHFGH Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 131 ngày 21/5/2018 của Ủy ban nhân dân phường GDFG, quận GFGDF, thành phố GFDG cấp cho các đương sự không còn giá trị pháp lý kể từ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HÀ THỊ LAN - NGUYỄN NGỌC THÁI"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN PHÚ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1116/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29/9/2022
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hiển

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Quang Cảnh

2. Ông Trần Ngọc Oanh

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Mai Hảo – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 477/2022/HNST, ngày 27 tháng 4 năm 2022 về “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 625/2022/QĐXXST-HN ngày 23 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 705/2022/QĐST-HNGĐ ngày 07/9/2022 giữa các đương sự: Nguyên đơn : Bà Hà HGHGH– sinh năm 1971 Địa chỉ : 47/9 HHG, phường HGHG, quận HGFHG, Tp.HGFHGFH Bị đơn : Ông Nguyễn HFHFGH– sinh năm 1960 Địa chỉ : 70/29 HGFHGF, phường HGFH, quận HGFH, Tp.HGHGF

(Tại phiên tòa, bà H – có đơn xin vắng mặt, ông H – vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 12/4/2022, bản tự khai và các buổi phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nguyeân ñôn bà Hà HGHGHtrình bày: bà và ông Nguyễn HFHFGHtự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường HDFD, quận DFGDF, thành phố DFGDF năm 2018. Về quan hệ hôn nhân: bà và ông H không phù hợp về tính tình, lối sống. Ông H có 02 người con với người vợ trước của ông. Những người con riêng của ông H không tôn trọng bà, thường đến nhà bà để lấy tiền để chi tiêu. Bên cạnh đó, bà phải tự lo mọi việc trong gia đình chồng và phải gánh trả nợ riêng cho chồng nhưng ông H vẫn không lo phụ giúp, cùng nhau để xây dựng gia đình chung. Nay nhận thấy không thể tiếp tục chung sống, bà yêu cầu được ly hôn với ông H.Về con chung : bà và ông H không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã tống đạt nhiều lần nhưng bị đơn ông Nguyễn HFHFGHvẫn vắng mặt và không có gửi văn bản ghi ý kiến trình bày của ông.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Hà HGHGHcó đơn xin xét xử vắng mặt và cam kết vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày. Bị đơn ông Nguyễn HFHFGHvẫn không đến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu ý kiến:

Về tố tụng : Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 68, Điều 69, khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc Tòa thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, đúng quan hệ tranh chấp và về thu thập chứng cứ, xác định đúng tư cách đương sự. Việc tham gia hỏi tại phiên tòa của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Đề nghị khắc phục vi phạm tại khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 131 ngày 21/5/2018 do Ủy ban nhân dân phường DFDF, quận HFHD, thành phố HFDHF cấp cho các đương sự thì quan hệ giữa bà Hà HGHGHvà ông Nguyễn HFHFGHlà quan hệ hôn nhân được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình. Hiện nay, ông Nguyễn HFHFGHđang thực tế cư trú tại địa chỉ cụ thể trên địa bàn quận GFDGDF, thành phố GDFGDF nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự .

Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: nguyên đơn bà Hà HGHGHcó đơn xin xét xử vắng mặt và cam kết không thay đổi ý kiến. Trong quá trình giải quyết vụ án hôn nhân trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, mặc dù Tòa án có tống đạt theo quy định pháp luật các văn bản tố tụng nhưng ông Nguyễn HFHFGHvẫn vắng mặt. Căn cứ theo quy định Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vắng mặt các đương sự.

Về các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình : “… 1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được…”.

Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn bà Hà HGHGHthì Hội đồng xét xử nhận thấy giữa bà Lan và ông Thái có mâu thuẫn trong hôn nhân. Bên cạnh đó, mặc dù Tòa án đã tống đạt nhiều lần nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn HFHFGHvẫn không đến và cũng không gửi đến văn bản nêu ý kiến của cá nhân ông. Từ đó nhận thấy ông Nguyễn HFHFGHkhông còn tha thiết, hàn gắng mối quan hệ vợ chồng với bà H. Hội đồng xét xử nhận thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H. Về con chung: bà Hà HGHGHxác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm do bà Hà HGHGHphải nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và Lệ phí năm 2016 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Luật Phí và Lệ phí năm 2016; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hà HGHGH

- Về quan hệ hôn nhân: bà Hà HGHGHđược ly hôn với ông Nguyễn HFHFGH Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 131 ngày 21/5/2018 của Ủy ban nhân dân phường GDFG, quận GFGDF, thành phố GFDG cấp cho các đương sự không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

- Về con chung: bà Hà HGHGHxác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét -Về tài sản chung và nợ chung: bà Hà HGHGHkhông yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. 2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do bà Hà HGHGHphải nộp, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0035489 ngày 27/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận GDFG, Thành phố GDFG. Bà Hà HGHGHđã nộp đủ án phí. Ông Nguyễn HFHFGHkhông phải nộp án phí.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. 3. Về quyền kháng cáo: đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ