- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Võ Văn N - Huỳnh Văn K"
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH !!!!!!!!!!!!!!!!!Độc!lập!–!Tự!do!–!Hạnh!phúc! Số: 1115/2017/QĐ-PT |
QUYẾT!ĐỊNH!
GIẢI!QUYẾT!VIỆC!KHÁNG!CÁO!ĐỐI!VỚI!QUYẾT!ĐỊNH!!
ĐÌNH!CHỈ!GIẢI!QUYẾT!VỤ!ÁN!
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH
- Thành phần Hội đồng phúc thẩm gồm có: "
Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"họp: Bà Trần Thị Kim Quy
Các"Thẩm"phán:
1/ Bà Phạm Thị Hằng
2/ Ông Uông Văn Tuấn
- Thư ký phiên họp: Bà Huỳnh Thụy Yến Vy
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Yến Oanh –!Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên họp phúc thẩm giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 544/2017/TLPT-DS ngày 30 tháng 10 năm 2017 về việc “Bồi thường thiệt hại tài sản”.
Theo Quyết định mở phiên họp phúc thẩm số 2736/2017/QĐPT-DS ngày 20 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:
Nguyên"đơn:"Ông Võ Văn N, chết năm 2016
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1971
Địa chỉ: 38/4 ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Phước H, sinh năm 1965
Địa chỉ: Căn hộ 204 Chung cư 327/8 Đường T, Phường X, phường N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị"đơn: Ông Huỳnh Văn K, sinh năm 1952
Địa chỉ: 143 Ấp V, xã M, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:"Ông Huỳnh Văn D, sinh năm 1958"
Địa chỉ: 20/1B ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Ngày 23/6/2015, ông Võ Văn N có đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân huyện H yêu cầu ông Huỳnh Văn K và ông Huỳnh Văn D phải liên đới bồi thường toàn bộ thiệt hại liên quan đến 321,5m2 đất của ông, thiệt hại ước tính là 1.000.000.000 (Một tỷ) đồng. Năm 2016, ông Võ Văn N chết, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông N là bà Nguyễn Thị A. Bà A ủy quyền cho ông Võ Phước H đại diện tham gia tố tụng. Ngày 07/10/2015, Tòa án nhân dân huyện H thụ lý vụ án “Bồi thường thiệt hại tài sản” số 392/2015/TLST-DS. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện H đã ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 682/2017/QĐST-DS ngày 15/9/2017, quyết định có nội dung sau: “…Xét thấy: Ngày 21.7.2017, Tòa án lập biên bản làm việc yêu cầu ông Võ Phước H – đại diện ủy quyền của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn Võ Văn N thực hiện thủ tục đo đạc hiện trạng vị trí phần đất liên quan tranh chấp có diện tích khoảng 700m2 tọa lạc tại xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 21.7.2017. Đến nay đã hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày 21.7.2017 nhưng ông Hoàng vẫn không cung cấp cho Tòa án hợp đồng đo đạc hiện trạng vị trí đất tranh chấp nêu trên nên nguyên đơn chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự”. Ngoài ra, quyết định sơ thẩm còn tuyên về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật. Ngày 04/10/2017, bà Nguyễn Thị A làm đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 682/2017/QĐST-DS ngày 15/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện H, với lý do Tòa án nhân dân huyện H căn cứ vào việc bà chậm trễ giao nộp hợp đồng đo đạc hiện trạng vị trí đất tranh chấp là không hợp lý và không thỏa đáng. Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm Phán, Hội đồng phúc thẩm đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án, xét thấy việc đo đạc hiện trạng vị trí đất tranh chấp là cần thiết. Ngày 21/7/2017, Tòa án nhân dân huyện H lập biên bản làm việc yêu cầu ông Võ Phước H – đại diện ủy quyền của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Võ Văn N thực hiện thủ tục đo đạc hiện trạng vị trí phần đất liên quan tranh chấp có diện tích khoảng 700m2 tọa lạc tại xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 21/7/2017. Quá thời hạn 15 ngày, ông Hoàng không cung cấp cho Tòa án hợp đồng đo đạc hiện trạng vị trí đất tranh chấp nên Tòa án nhân dân huyện H ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 682/2017/QĐST-DS
2 ngày 15/9/2017 với lý do nguyên đơn chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng quy định pháp luật.
Vì vậy, kháng cáo của bà Nguyễn Thị A là không có cơ sở được chấp nhận.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Về hình thức: Ngày 03/10/2017, đại diện nguyên đơn là ông Võ Phước H nhận được Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 682/2017/QĐST-DS ngày 15/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện H. Ngày 04/10/2017, bà Nguyễn Thị A làm đơn kháng cáo Quyết định đình chỉ trên theo thủ tục phúc thẩm. Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc kháng cáo của bà A là còn trong thời hạn kháng cáo.
Về nội dung: Ngày 15/9/2017, Tòa án đã căn cứ vào Điều 48, Điều 217, Điều 218, Điều 219 và Khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 682/2017/QĐST-DS ngày 15/9/2017 với lý do “Xét thấy: Ngày 21.7.2017, Tòa án lập biên bản làm việc yêu cầu ông Võ Phước H – đại diện ủy quyền của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn Võ Văn N thực hiện thủ tục đo đạc hiện trạng vị trí phần đất liên quan tranh chấp có diện tích khoảng 700m2 tọa lạc tại xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 21.7.2017. Đến nay đã hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày 21.7.2017 nhưng ông Hoàng vẫn không cung cấp cho Tòa án hợp đồng đo đạc hiện trạng vị trí đất tranh chấp nêu trên nên nguyên đơn chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự” là chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Vì theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì “chưa đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó”.
Trong vụ án này, việc đại diện nguyên đơn không cung cấp cho Tòa án hợp đồng đo đạc hiện trạng vị trí đất tranh chấp theo yêu cầu của Tòa án thì không thuộc trường hợp chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và cũng không thuộc một trong các căn cứ đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Do đó, kháng cáo của bà Nguyễn Thị A là có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị
của đại diện viện kiểm sát là không có cơ sở.
Căn cứ điểm c Khoản 5 Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 682/2017/QĐST-DS ngày 15/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện H.
3 Bởi các lẽ trên;
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứ điểm c Khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tuyên!xử:!!!!!!!!!! 1. Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị A – Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Võ Văn N. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 682/2017/QĐST-DS ngày 15/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân huyện H để tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. 2. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Sẽ được quyết định khi vụ án được tiếp tục giải quyết.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị A không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà A 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2016/0032723 ngày 09/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H. 3. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND cấp cao tại TP.HCM; - TAND huyện H; - VKSND TP.HCM; - Chi cục THADS huyện H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. !! | TM.!HỘI!ĐỒNG!PHÚC!THẨM! THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!HỌP! ! ! ! ! ! Trần!Thị!Kim!Quy! 4 |