vanban.org

Bản án 1113/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.

1 Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị T và ông Lâm Văn D. 2 Về việc con chung: Giao trẻ Lâm H, sinh ngày 19/12/2009 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không yêu cầu ông Lâm Văn D cấp dưỡng chi phí nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1113/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 21-6-2023
V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ái Long

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lâm Thị Hoàng Oanh

2. Ông Trần Văn Phủ

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Hải An, là Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1228/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2022, về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/5/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1977 (Có đơn đề nghị vắng mặt)

Địa chỉ: 46A Đường 29, hường A, Thành phố B, Thành phố C.

Bị đơn: Ông Lâm Văn D, sinh năm 1971 (Vắng mặt)

Địa chỉ: 03 Chu Văn B, Phường A, quận B, Thành phố C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 5 năm 2022, bản tự khai và các và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Năm 2003, bà và ông Lâm Văn D tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố C và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 29 ngày 13/02/2003. Thời gian đầu, bà và ông D chung sống hạnh phúc. Đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn do tính tình thay đổi, quan điểm sống khác nhau. Bà đã cố gắng hàn gắn nhưng không kết quả. Và từ đó cho đến nay bà và ông D sống ly thân. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Lâm Văn D để ổn định cuộc sống.

Trong quá trình chung sống, bà T và ông D có hai con chung tên Lâm Văn H, sinh năm 1993, đã trưởng thành; Lâm H, sinh ngày 19/12/2009, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Lâm H, bà không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T khai bà và ông D không có tài sản chung, nợ chung.

* Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Lâm Văn D đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 28/12/2022, ngày 14/3/2023 nhưng ông D vắng mặt không lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân uận B nh Thạnh phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

* Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán:

Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể: Thẩm phán xác định, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án, xác định vụ kiện thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát thực hiện theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên Thẩm phán còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

* Về việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng:

Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay bị đơn không thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí ly hôn: Nguyên đơn phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị T và ông Lâm Văn D là quan hệ hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo kết quả cung cấp chứng cứ của Công an Phường A, quận B: Bị đơn ông Lâm Văn D có đăng ký thường trú và hiện cư trú tại địa chỉ: 03 Chu Văn A, Phường A, quận B, Thành phố C. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn ông Lâm Văn D tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử lần thứ nhất vào ngày 31/5/2023 và lần thứ hai vào ngày 21/6/2023 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Lâm Văn D.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ban đầu nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn.

Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 29 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố C cấp ngày 13/02/2003 thể hiện hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Lâm Văn D là hợp pháp.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, theo lời khai của bà T, thời gian đầu bà và ông D chung sống hạnh phúc. Đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn do tính tình thay đổi, quan điểm sống khác nhau. Bà đã cố gắng hàn gắn nhưng không kết quả. Từ năm 2017 bà và ông D sống ly thân cho đến nay. Trong suốt quá trình tố tụng, bà T xác định không còn tình cảm với ông D.

Tại Công văn số 336/UBND ngày 23/8/2022, Ủy ban nhân dân Phường A, quận B có nội dung sau: Ông Lâm Văn D và bà Nguyễn Thị T có chung sống với nhau từ năm 2003 đến năm 2017 tại địa chỉ 03 Chu Văn A, Phường A, quận B, Thành phố C. Từ năm 2019 đến nay ông bà sống ly thân. Cho thấy hôn nhân giữa bà T và ông D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, vì vậy bà T có nguyện vọng xin được ly hôn với ông D là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung:

Căn cứ vào bản sao Giấy khai sinh số 227 ngày 03/12/1993 và số 580 ngày 25/12/2009 của Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố C thì: Ông Lâm Văn D và bà Nguyễn Thị T có hai con chung tên Lâm Văn H, sinh năm 1993, đã trưởng thành; Lâm H, sinh ngày 19/12/2009.

Hội đồng xét xử xét,

Căn cứ Công văn số 336/UBND ngày 23/8/2022, Ủy ban nhân dân Phường A, quận B thì hiện trẻ Lâm H, sinh ngày 19/12/2009 đang sống cùng bà T tại địa chỉ: 46A Đường 29, phường A, Thành phố B, Thành phố C. Bà T có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Lâm H, bà không yêu cầu ông D cấp dưỡng chi phí nuôi con. Đồng thời tại biên bản làm việc ngày 02/8/2022, trẻ Lâm H có nguyện vọng được sống với bà Nguyễn Thị T. Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà T là chính đáng, phù hợp nguyện vọng của trẻ Lâm H, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên có cơ sở chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị T khai không có, nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng bà Nguyễn Thị T phải nộp.

V các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 48, khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 267, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật phí và lệ phí;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị T và ông Lâm Văn D.

1.2 Về việc con chung: Giao trẻ Lâm H, sinh ngày 19/12/2009 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không yêu cầu ông Lâm Văn D cấp dưỡng chi phí nuôi con.

Ông Lâm Văn D được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

1.3 Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị T khai không có, nên Hội đồng xét xử không xét.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nguyên đơn bà Nguyễn Thị T phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà nguyên đơn đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số AA/2021/0049924 ngày 09/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh. Nguyên đơn đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bị đơn ông Lâm Văn D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ