vanban.org

Bản án 1111/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Bà Trần Thị B được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng H. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số: 110, quyển số 01/2006, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trần Thị B yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hoàng H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 1111/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17-8-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Phong

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Nguyễn Văn Soan.

2- Bà Châu Thị Lệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Thư ký Toà án nhân

dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa: Bà

Hồ Thị Thảo: Kiểm Sát Viên

Ngày 17 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, xét xử

sơ thẩm công khai, vụ án hôn nhân thụ lý số: 554/2023/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 05 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 304/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 298/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2023.

Nguyên đơn: Bà Trần Thị B - sinh năm: 1980;

Địa chỉ: Đường H, phường S, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng H- sinh năm: 1979;

Địa chỉ: Đường D, phường S, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 24 tháng 4 năm 2023, bản tự khai, qua các lần

làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là bà Trần Thị B trình bày: Bà B với ông H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, chứng nhận kết hôn số: 110, quyển số 01/2006, ngày 29 tháng 8 năm 2006. Quá trình chung sống, đôi bên thường xuyên cãi nhau, ông H bỏ bê gia đình không quan tâm đến vợ con, nguyên nhân là do quan niệm sống, cách nhìn nhận cuộc sống không phù hợp, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng đã ly thân lâu nay, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên bà B yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông H để ổn định cuộc sống.

Trong thời gian chung sống bà B, ông H có hai con chung tên: Nguyễn Trần

Hoàng M, sinh ngày: 23/3/2008 và Nguyễn Trần Minh K, sinh ngày: 25/7/2019 khi ly hôn bà B xin được quyền nuôi con và không yêu cầu ông H cấp dưỡng.

Về tài sản chung, về nợ chung: Bà B xác định không có.

Đối với ông Nguyễn Hoàng H, Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án

cho đương sự, triệu tập cho ông H tới Tòa án để ghi bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H đều vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập ông H tham gia phiên tòa, tại phiên tòa này ông H vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã thực hiện

đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố

tụng dân sự.

Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng

dân sự.

Về nội dung: Đối với yêu cầu của nguyên đơn xin được giải quyết ly hôn

và xin được nuôi con theo nội dung đã trình bày là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả làm việc tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số: 110, quyển số 01/2006, ngày 29 tháng

8 năm 2006 do Ủy ban nhân dân phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thị B và ông Nguyễn Hoàng H đã xác định quan hệ hôn nhân giữa bà B, ông H là quan hệ hôn nhân hợp pháp được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình.

Yêu cầu xin ly hôn của bà B đối với ông H là quan hệ tranh chấp về hôn

nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa, căn

cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đương sự.

Về nội dung:

Đối với yêu cầu ly hôn của bà B thì Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bà B yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn, theo nguyên nhân chủ yếu

là do vợ chồng không còn tình cảm, có mâu thuẫn trầm trọng, hiện nay vợ chồng không còn chung sống. Như vậy vợ chồng không còn thương yêu nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc ông H không tới Tòa án tham gia các phiên hòa giải, phiên tòa cũng đã thể hiện ông H không mong muốn đoàn tụ với bà B, Hội đồng xét xử thấy rằng nên chấp nhận giải quyết cho ly hôn theo yêu cầu của nguyên đơn.

Về con chung:

Căn cứ giấy khai sinh số: 91, quyển số: 01/2008 ngày 27/03/2008 của Ủy

ban nhân dân phường 13, quận Bình Thạnh thành phố Hồ Chí Minh và giấy khai sinh số 157, ngày 30/7/2019 của Ủy ban nhân dân Phường 6, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh cấp thể hiên bà B và ông H có hai con chung tên: Nguyễn Trần Hoàng M, sinh ngày: 23/3/2008 và Nguyễn Trần Minh K, sinh ngày: 25/7/2019, khi ly hôn bà B xin được quyền nuôi con và không yêu cầu ông H cấp dưỡng.

Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, xét yêu cầu của bà B

là có cơ sở nên được chấp nhận.

Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung

nên Hội đồng xét xử không xét những vấn đề này.

Từ những nhận định như trên Hội đồng xét xử thống nhất giải quyết cho

bà Duyên được ly hôn với ông Mạnh, cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà B được ly hôn với ông H, quan hệ hôn nhân chấm

dứt ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Có hai con chung tên: Nguyễn Trần Hoàng M, sinh ngày:

23/3/2008 và Nguyễn Trần Minh K, sinh ngày: 25/7/2019, khi ly hôn bà B xin được quyền nuôi con và không yêu cầu ông H cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết

trong vụ án này.

Bà B phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn

đồng) theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39, Điều 147, Điều 150, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình

năm 2014.

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Bà Trần Thị B được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng H.

Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số: 110, quyển số 01/2006,

ngày 29 tháng 8 năm 2006 do Ủy ban nhân dân phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thị B và ông Nguyễn Hoàng H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

- Về con chung: Có hai con chung tên: Nguyễn Trần Hoàng M, sinh ngày:

23/3/2008 và Nguyễn Trần Minh K, sinh ngày: 25/7/2019, bà B trực tiếp nuôi hai con, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của ông H do bà B không yêu cầu.

Ông H được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không

ai được cản trở.

Vì lợi ích con, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu thay đổi người trực

tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

2. Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà B phải chịu,

nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai số: AA/2022/0013248 ngày 05 tháng 5 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Bà B đã nộp đủ án phí.

3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo các quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Bà B có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

ông H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ