vanban.org

Bản án 1110/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn H được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc Ng.

Về con chung: Không có. Về tài sản chung và nợ chung đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Nguyễn Văn H - Bà Nguyễn Thị Ngọc Ng"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn H được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc Ng.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1110/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 28/9/2017
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đức Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đoàn Văn Rỹ.

2. Bà Nguyễn Thanh Vân.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Nhã - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Sinh – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 943/2013/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2013 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2017/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, địa chỉ: đường PTH, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ng, địa chỉ: đường ADL, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 04 tháng 7 năm 2013 cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông H và bà Nguyễn Thị Ngọc Ng chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 1997 tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.Trong quá trình chung sống vợ chồng ông bà không có con chung; thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng càng về sau vợ chồng sống không hòa hợp, gia đình thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, không thể vun đắp chung được cuộc sống gia đình, đời sống vợ chồng không thể kéo dài được nữa, vợ chồng sống không có hạnh phúc nên đã tự sống ly thân từ năm 2008 cho đến nay. Hiện nay tình cảm của ông H đối với bà Ng không còn nữa. Tại Tòa ông H yêu cầu được ly hôn với bà Ng. Về con chung: Không có. Về tài sản chung và nợ chung đương sự xác định không có.

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Ng: Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án và đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bà Ng đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng bà Ng không đến, do đó không có lời khai của đương sự tại tòa.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chấp hành tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự; bị đơn chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự. Về phần nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn H thì đây là vụ án tranh chấp về ly hôn; do bị đơn cư trú tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, nên theo qui định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Xét nguyên đơn ông Nguyễn Văn H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Ng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nên căn cứ vào điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Xét việc ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Ng chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 103/TH, quyển số 01/1997, đăng ký ngày 08/11/1997 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Xét việc Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà Ng đến Tòa để hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng bà Ng không đến. Chứng tỏ bà Ng thiếu thiện chí để hòa giải những mâu thuẫn giữa vợ chồng, không xem trọng cuộc sống chung vợ chồng nên căn cứ theo Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình thì Tòa án xem xét, giải quyết việc ly hôn.

Xét yêu cầu của ông H xin được ly hôn với bà Ng do ông H không còn tình cảm với bà Ng, cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc, không có tình nghĩa vợ chồng, đời sống chung không thể kéo dài và hai bên đã tự sống ly thân. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải để hai bên đoàn tụ nhưng vợ chồng vẫn sống ly thân, bỏ mặc nhau, không còn yêu thương nhau, không giúp đỡ để cùng nhau phát triển. Do đó, yêu cầu ly hôn của ông H là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét về con chung: Không có.

Xét về tài sản chung và nợ chung đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét về án phí dân sự sơ thẩm: Ông H phải chịu theo qui định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 8 Điều 27 của Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 8 Điều 27 của Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn H được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc Ng.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung và nợ chung đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) ông H phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 02211 ngày 01/12/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8. Ông H đã thi hành xong phần án phí dân sự sơ thẩm.

5. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ